• Thứ Năm, 04/05/2006 15:11 (GMT+7)

    Hà Nội ứng dụng CNTT chậm

    Theo kết luận tại hội nghị báo cáo kết quả hoạt động 5 năm (2001- 2005) của UBND TP.Hà Nội vào cuối tháng 3 vừa quá, nhiều dự án, chương trình CNTT trọng điểm của thành phố trong giai đoạn này đã chậm triển khai so với kế hoạch và chưa được giải ngân.

    "Tắc" nhiều, "thông" ít

    Từ năm 2001 đến nay, số cán bộ công chức được đào tạo về phổ cập tin học, tin học nâng cao, sử dụng phần mềm (PM) phục vụ công tác chuyên môn là hơn 3.500 người, đạt 80% kế hoạch. Hiện mỗi sở, huyện, ban, ngành đã có mạng LAN, bình quân 40 máy tính/100 người. 72% đơn vị đã kết nối Internet, trong đó 28% có đường ADSL. Đã triển khai được một hệ thống mạng từ văn phòng Thành Ủy xuống 12 quận huyện ủy (trừ 2 quận mới Hoàng Mai và Long Biên). Một số phường của quận Cầu Giấy đã kết nối mạng diện rộng của Đảng bộ.

    Từ 2001 đến tháng 6/2005 có 3600 DN đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực CNTT nhưng chủ yếu là DN nhỏ; doanh thu dưới 5 tỷ đồng/năm chiếm 47,6%, từ 5-10 tỷ đồng chiếm 29% và trên 20 tỷ là 23,3%.

    Đến hết năm 2005, có 9 Sở, ngành tham gia cổng giao tiếp điện tử (GTĐT) với 33 lĩnh vực hỏi đáp trực tuyến và kết nối trạng thái (vì chỉ có một vài mô hình có hoạt động phục vụ) với 33/35 trung tâm (TT) một cửa của thành phố.

    Đó là những kết quả được coi là sáng sủa nhất trong báo cáo tổng kết triển khai chương trình ứng dụng CNTT của UBND TP. Hà Nội. Phần còn lại là mảng màu tối bao trùm với rất nhiều đề án, dự án, chương trình chưa hoặc chậm triển khai.

    Có thể kể đến một loạt các chương trình thành phố giao cho các sở, ban, ngành nhưng chưa được triển khai như: Đề án "Thành lập 200-300 DN PM trên địa bàn thành phố" giao cho Sở Kế Hoạch Đầu Tư từ năm 2002 nhưng đến nay vẫn chưa tổ chức thực hiện được; đề án "Phát triển công nghiệp phần cứng" do Sở Công Nghiệp chủ trì; đề án "Thương mại điện tử"... cũng trong tình trạng "treo" tương tự.

       

    MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỦA TP.HÀ NỘI NĂM 2006

     

     

     

    • 100% mạng cục bộ tại các sở, quận, huyện và một số bộ, ban, ngành được thiết lập và triển khai ứng dụng.
    • Tăng tỷ lệ máy tính/người khoảng 10-15%.
    • Tất cả các sở, ban, ngành, quận, huyện đều có website hoặc PM để giao dịch với tổ chức và công dân.
    • 12 sở, ngành tham gia dịch vụ hỏi đáp trực tuyến trên GTĐT.
    • Có 2 quận, 1 sở cung cấp dich vụ công trực tuyến trên GTĐT.
    • Thực hiện kết nối 100% các bộ phận tiếp nhận hồ sơ hành chính của 39 sở, ngành, quận, huyện với cổng GTĐT.
    • Triển khai hệ thống thư tín điện tử cho cán bộ công chức.
    • Triển khai giai đoạn 1 dự án CPĐT (dự án sử dụng nguồn vốn vay của World Bank).
    • Triển khai hợp tác với chính quyền Seoul (Hàn quốc) về phát triển CPĐT.
    • Tăng 10-15% số DN có website.

     

    Ngoài TT Giao Dịch CNTT Hà Nội vừa đưa vào sử dụng (10/2005) và TT Đào Tạo CNTT (Trung Hòa Nhân Chính) chưa hoàn thiện (mới xong giai đoạn 1), Hà Nội có 3 địa chỉ được thành phố đầu tư xây dựng là: TT Công Nghệ PM Hà Nội (số 2 Chùa Bộc), TT Giao Dịch Điện Tử và PM Hà Nội (số 152 Thuỵ Khuê) và Khu Công Nghệ PM Hòa Lạc (tại Khu Công Nghệ Cao Hòa Lạc). Tuy nhiên, đến thời điểm này, TT Công Nghệ PM Hà Nội đã hoạt động không hiệu quả. Được xây dựng với mục đích hỗ trợ hạ tầng cho DN PM Hà Nội nhưng hiện trung tâm chỉ quy tụ được 9 công ty thành viên với tổng số khoảng 200 người. Điều kiện hạ tầng viễn thông và mô hình hoạt động của TT không đáp ứng kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của CNTT-TT. Hiện TT Công Nghệ PM Hà Nội đang đề nghị thành phố cho chuyển đổi mục đích hoạt động của TT này.

    Trong một phát biểu chỉ đạo trước đó với Sở BCVT Hà Nội, ông Nguyễn Quốc Triệu, chủ tịch UBND thành phố đã thẳng thắn góp ý: Hoạt động CNTT-TT của thành phố trong thời qian qua vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu của thành phố đề ra về ứng dụng, phát triển CNTT và triển khai các dự án trọng điểm. Cụ thể, từ 2001 đến nay, thành phố dự kiến chi 330 tỷ đồng nhưng số dự án giải ngân chậm, chỉ mới đạt 2/29 dự án.

    Cũng trong lần báo cáo này, ông Nguyễn Mạnh Dũng, giám đốc Sở BCVT Hà Nội cho biết: "Trong 330 tỷ đồng cho chương trình CNTT, Hà Nội đã thực hiện được khoảng 196,5 tỷ (đạt 59,4%), trong đó vốn xây dựng cơ bản là 101 tỷ (đạt 50%) vốn từ chương trình mục tiêu là 95 tỷ (đạt 74,8%)".

    Đâu là Nguyên nhân?

    Ông Nguyễn Mạnh Dũng đã thẳng thắn nhìn nhận nguyên nhân của các kết quả trên là do nhận thức về vai trò, vị trí của CNTT trong phát triển kinh tế xã hội chưa đáp ứng yêu cầu; bộ máy nhân sự nhiều bất cập... Đặc biệt, những thay đổi trong bộ máy quản lý nhà nước chương trình CNTT từ Trung Ương đến địa phương giai đoạn 2001-2005 dẫn đến sự chỉ đạo thiếu thống nhất, không tập trung được toàn bộ nguồn nhân lực vốn đã yếu và thiếu trong quá trình triển khai.

    Cũng về vấn đề nhân lực, ông Dũng cho rằng: "Hiện việc đề xuất và xây dựng các dự án tin học hóa chỉ do các chuyên gia tư vấn kỹ thuật và một số ít cán bộ phụ trách CNTT thực hiện, không có lãnh đạo phụ trách và chịu trách nhiệm đổi mới quy trình tham gia...".

    Trong năm 2006, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện và triển khai các chương trình, đề án dang dở, Hà Nội quyết tâm đặt năm 2006 là năm tạo bước đột phá cơ bản. Đây sẽ là năm tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng và phát triển một xã hội điện tử, triển khai thành công chính phủ điện tử, thương mại điện tử, xây dựng ngành công nghiệp CNTT thành ngành kinh tế chủ lực.

     

    TP.HCM: Sở, ngành, quận, huyện làm chủ đầu tư dự án CNTT

     

     

    TP.HCM đã tổ chức hội nghị cải cách hành chính (CCHC) năm 2005 và triển khai chương trình cải cách hành chính năm 2006 vào ngày 4/4/2006. Hội nghị cũng là dịp đánh giá công tác thực hiện đề án "Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước" (Đề Án 112) tại TP.HCM.
    Với CCHC, việc ứng dụng CNTT và mở rộng tiêu chuẩn ISO trong quản lý nhà nước và nghiệp vụ hành chính đã phát huy tác dụng. Mặt tích cực của CCHC tại TP.HCM chính là việc khoán biên chế và kinh phí quản lý tài chính cho các sở, ngành, quận, huyện, phường xã, thị trấn thí điểm; từ đó tăng năng suất lao động, giảm chi phí cũng như tăng thêm thu nhập cho cán

     

     

    bộ công chức... Tuy nhiên, tồn tại chính vẫn là nhiều thủ trưởng sở, ngành, quận, huyện, chưa sẵn sàng vào cuộc và chỉ đạo quyết liệt công tác CCHC mà khoán trắng cho bộ phận chuyên trách... Nhằm CCHC triệt để, phục vụ người dân, HĐND và UBND TP.HCM đã chọn 2006 là "Năm cải cách hành chính" (xem thêm bài viết "TP.HCM năm 2006: Cải cách hành chính đồng hành cùng CNTT", TGVT B tháng 2/2006, trang 5), trong đó, chắc chắn không thể thiếu vai trò của CNTT.
    Với Đề Án 112 năm 2005, một số kết quả đạt được: 5.000 cán bộ, công chức TP.HCM đã có địa chỉ thư tín điện tử của hệ thống quản lý hành chính; ứng dụng hệ thống quản lý đất đai, xây dựng tại 8 quận - huyện; 15 sở ngành đã triển khai các hệ thống quản lý tác nghiệp chuyên ngành... Tổng kinh phí giải ngân cho các dự án tin học hóa quản lý hành chánh nhà nước TP.HCM năm 2005 gần 32 tỷ đồng, gấp 3 lần mức chi của 2 năm trước đó.
    Thành phố cũng đã có một bước đi hợp lý trong năm 2005: Giao cho sở, ngành, quận, huyện làm chủ đầu tư các dự án triển khai tại đơn vị mình và Sở BCVT là cơ quan quản lý chung việc triển khai xây dựng các dự án hạ tầng CNTT cũng như ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng thiết kế cơ sở, quy trình thẩm định dự án. Trước đó, các dự án CNTT tại TP.HCM chậm triển khai một phần do hầu hết các dự án lớn phải được triển khai ở 2 cấp thành phố và quận huyện sở ngành nhưng chỉ do 1 đầu mối làm chủ đầu tư là văn phòng HĐND và UBND TP.HCM; dẫn đến nhiều khó khăn, mâu thuẫn, trùng lắp... khi triển khai.
    Theo tổng kết được phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân trình bày tại hội nghị nói trên, trong tin học hóa quản lý hành chính nhà nước, bên cạnh những mặt mạnh, TP.HCM vẫn còn hạn chế như lực lượng cán bộ của Sở BCVT đại đa số mới tham gia bộ máy QLNN; Sở mới hoạt động năm đầu tiên nên quy trình quản lý còn phải tiếp tục hoàn thiện; việc thẩm định một số dự án còn lâu; tỷ lệ giải ngân chưa cao (khoảng 45% kế hoạch kinh phí năm được duyệt).
    Trần Quốc

    Thu Hiền

    ID: B0605_12