WiMax, các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực viễn thông đã đề cập đến công nghệ này một cách dè dặt hơn, vì khả năng thành công của nó vẫn còn là một dấu hỏi. Điều đó được thể hiện trong hội thảo “Công nghệ WiMAX” do tạp chí Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin tổ chức sáng 1/6/2006." /> WiMax, các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực viễn thông đã đề cập đến công nghệ này một cách dè dặt hơn, vì khả năng thành công của nó vẫn còn là một dấu hỏi. Điều đó được thể hiện trong hội thảo “Công nghệ WiMAX” do tạp chí Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin tổ chức sáng 1/6/2006."/> WiMax, các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực viễn thông đã đề cập đến công nghệ này một cách dè dặt hơn, vì khả năng thành công của nó vẫn còn là một dấu hỏi. Điều đó được thể hiện trong hội thảo “Công nghệ WiMAX” do tạp chí Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin tổ chức sáng 1/6/2006." />
  • Thứ Bảy, 03/06/2006 09:12 (GMT+7)

    Dè dặt hơn với WiMax

    Sau một thời gian ồn ào về WiMax, các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực viễn thông đã đề cập đến công nghệ này một cách dè dặt hơn, vì khả năng thành công của nó vẫn còn là một dấu hỏi. Điều đó được thể hiện trong hội thảo “Công nghệ WiMAX” do tạp chí Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin tổ chức sáng 1/6/2006.

    WiMAX là một công nghệ truy cập không dây băng rộng (Wireless Broadband Access), có khả năng cung cấp các dịch vụ từ cố định đến di động với tốc độ hàng Mbps tới người dùng cuối trong khoảng cách hàng km (bán kính phủ sóng), giá cả thấp do cung cấp các dịch vụ trên nền IP. WiMAX được đề cập khá nhiều trong thời gian gần đây như một công nghệ có khả năng chiếm lĩnh thị trường viễn thông, vượt trội so với các công nghệ khác, nhất là trong xu thế hội tụ công nghệ, hội tụ dịch vụ, truyền thông đa phương tiện.

     

    Ông Trần Đức Lai, thứ trưởng Bộ BCVT cũng cho rằng WiMAX là công nghệ hứa hẹn, giúp khai thác nhiều loại hình dịch vụ (đa dịch vụ) trên nền băng rộng tốc độ cao. Mặt khác, với khả năng phủ sóng rộng, WiMAX có lợi cho việc triển khai các dịch vụ viễn thông và Internet tại những vùng sâu, vùng xa, vùng có địa hình phức tạp, không có điều kiện kéo cáp.

     

    Tuy nhiên, việc triển khai WiMAX ở Việt Nam không phải là dễ dàng. Ông Đàm Quang Hoan, phó cục trưởng Cục Tần Số Vô Tuyến Điện, Bộ BCVT cho biết: Để đáp ứng được tốc độ và dung lượng như của WiMAX thì phổ tần cho dịch vụ này phải rất lớn. Song, nhiều băng tần có thể dùng cho WiMAX ở Việt Nam đã được dùng cho các dịch vụ khác. Ví dụ các băng tần dưới 1GHz được nhận định là phù hợp với WiMAX thì ở Việt Nam, hệ thống truyền hình (với rất nhiều đài địa phương) lại chiếm rất nhiều. Trong khi đó, Việt Nam vẫn cấm chuyển nhượng giấy phép về tần số. Băng tần 2500-2690 MHz cũng được xem là có triển vọng với WiMAX nhưng cần sắp xếp lại. Băng tần 2300-2400 MHz có thể dùng được, nhưng thế giới lại ít dùng, do đó nếu Việt Nam dùng thì sẽ không có nơi cung cấp thiết bị đầu cuối v.v… Do đó, ông Hoan kiến nghị nên thử nghiệm các băng tần cho WiMAX. Nếu băng tần nào chứng minh được hiệu quả sử dụng dịch vụ này và phù hợp với thế giới thì nên chuyển các dịch vụ khác ra khỏi băng tần đó.  

     

    Theo ông Trần Tuấn Anh, chuyên viên Vụ Viễn Thông, Bộ BCVT, bên cạnh những ưu thế vượt trội so với các công nghệ cung cấp dịch vụ băng rộng hiện nay, WiMAX có những nhược điểm như: Giá thiết bị đầu cuối còn đắt, trong thời gian tới chưa thể giảm ngay; do khả năng linh hoạt của WiMAX, việc chuẩn hoá thiết bị khó đồng nhất, nên số lượng các nhà sản xuất thiết bị đầu cuối hạn chế; WiMAX dựa trên nền IP nên việc kết nối, đánh số, chất lượng dịch vụ, bảo mật và an toàn mạng cần nghiên cứu cụ thể; quản lý chất lượng và bảo mật còn nhiều thứ chưa chuẩn. Chính vì thế mà Bộ BCVT hiện mới chỉ cấp phép thử nghiệm WiMAX cố định tiêu chuẩn 802.16 – 2004 ở băng tần 3,3 GHz – 3,4 GHz nhằm đánh giá công nghệ và khả năng thương mại các dịch vụ trên nền WiMAX. Việc cấp phép thiết lập mạng cung cấp dịch vụ viễn thông công nghệ WiMAX sẽ được xem xét sau khi đánh giá các khía cạnh của báo cáo, kết quả thử nghiệm.

     

    Một số chuyên gia viễn thông cũng cho rằng WiMax hiện nay đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, trên thế giới chưa có ví dụ điển hình về sự thành công về mặt thương mại, cho nên người ta vẫn nghi ngờ (có người gọi công nghệ này là WhyMAX thay vì WiMAX).

     

    Việc triển khai WiMAX ở Việt Nam đặt ra những bài toán không dễ cho nhà quản lý, ông Trần Đức Lai, thứ trưởng Bộ BCVT, đã thừa nhận. Đó là các vấn đề lớn về quản lý tài nguyên, chất lượng dịch vụ. Theo ông Lai, cần có thời gian cho các công ty thử nghiệm và nhà quản lý cần đánh giá thấu đáo. Ông cũng cho biết không phải Bộ BCVT, mà nhà khai thác sẽ quyết định sử dụng công nghệ nào để cung cấp các dịch vụ của mình.   

     

     Trên thế giới hiện nay mới chỉ có các mạng thử nghiệm công nghệ WiMAX cố định. Việc thử nghiệm WiMAX diễn ra trên hơn 50 nước với mục đích chủ yếu là cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định cho vùng thưa dân cư. Theo đánh giá của Maravedis Inc. thì thị trường viễn thông băng rộng cố định (sub-11 GHz) đến năm 2010 có doanh thu hơn 2 tỉ USD (không lớn). Hiện nay tốc độ tăng trưởng hàng năm là 30%. Riêng tại Hàn Quốc, mạng di động WiBro - một dạng của WiMAX di động (tính chất di động hạn chế dưới 60km/giờ) - đã được phủ sóng, dự kiến sẽ hoạt động thương mại vào tháng 6/2006. WiBro cung cấp dịch vụ Internet lưu động (Portable Internet Service), truy nhập vô tuyến tốc độ cao mọi lúc, mọi nơi.  

    Tại Việt Nam, hiện có 4 doanh nghiệp được cấp phép thử nghiệm công nghệ WiMAX cố định băng tần 3,3 GHz: tập đoàn BCVT Việt Nam (VNPT), tổng công ty truyền thông đa phương tiện (VTC), công ty cổ phần viễn thông FPT Telecom, tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel).

     

    Thụy Anh
    ID: O0606_1