• Thứ Ba, 05/09/2006 10:13 (GMT+7)

    Cái lý của những nghịch lý!

    Kết quả xếp hạng theo Vietnam ICT Index 2005 không quá gây bất ngờ, nhưng cũng có nhiều điều khiến chúng ta ngạc nhiên hoặc cảm thấy chưa rõ ràng. Ông Nguyễn Long, tổng thư ký Hội Tin Học Việt Nam (VAIP) đã trao đổi với TGVT – PC World VN về những điểm dễ gây thắc mắc của bộ chỉ số này.

    Kết quả xếp hạng theo Vietnam ICT Index 2005 không quá gây bất ngờ, nhưng cũng có nhiều điều khiến chúng ta ngạc nhiên hoặc cảm thấy chưa rõ ràng. Ông Nguyễn Long, tổng thư ký Hội Tin Học Việt Nam (VAIP) đã trao đổi với TGVT – PC World VN về những điểm dễ gây thắc mắc của bộ chỉ số này.

    Thưa ông, điểm khác nhau cơ bản giữa Vietnam ICT Index với báo cáo (BC) "Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam" của Hội Tin Học TP. HCM (HCA) là gì?

    Có 2 điểm khác nhau cơ bản: 1/ ICT Index đánh giá mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng (PT&ƯD) CNTT-TT của các đối tượng ở quy mô nhỏ (các tỉnh/thành, bộ/ngành, các N), còn BC toàn cảnh chỉ nêu các số liệu, đánh giá cho toàn quốc gia. 2/ BC của HCA là bức ảnh chụp thực trạng CNTT-TT của VN; ICT Index là bức vẽ phác thảo thực trạng CNTT-TT của VN thông qua các đối tượng khác nhau của VN. Toàn bộ số liệu của ICT Index lấy từ các nguồn trong nước.

    Mối tương quan giữa phát triển kinh tế với PT&ƯD CNTT-TT thể hiện khá rõ nét trong bảng xếp hạng chung. Những tỉnh/thành có tiềm lực kinh tế, có tốc độ phát triển nhanh đều được xếp ở vị trí cao. Nhưng tại sao hai tỉnh miền núi Lâm Đồng và Lào Cai cũng chiếm vị trí khá cao?

    Lâm Đồng tuy là tỉnh miền núi nhưng lại có thủ phủ Đà Lạt - một thành phố du lịch nổi tiếng và có truyền thống về đào tạo ĐH từ lâu (1958). Lâm Đồng xếp thứ 6 về hạ tầng nhân lực, thứ 9 về ƯD CNTT-TT. Còn ở Lào Cai, những năm gần đây lãnh đạo tỉnh rất quan tâm đến ứng dụng CNTT-TT nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành và hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là với Trung Quốc. Lào Cai đứng thứ 4 về ƯD CNTT. Hơn nữa, dân số 2 tỉnh này không lớn. Lâm Đồng có 1,1 triệu dân còn Lào Cai chưa đầy 700.000 dân. Ngoài 2 trường hợp nêu trên, vị trí thứ 10 của Quảng Bình cũng cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Trung Ương và địa phương cho PT&ƯD CNTT-TT.

    Hà Nội (HN) là Thủ Đô, đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng chung, nhưng lại kém Sơn La về ƯD CNTT? Tại sao có sự lạ như vậy?

    Điểm số về ứng dụng CNTT-TT của HN và Sơn La gần như nhau (mức chênh lệch: 0,005 điểm tương đương 2,5%). Điều này có vẻ vô lý, nhưng xét trên thực tế mức độ sử dụng điện thoại trên đầu người, chi ngân sách cho CNTT trên đầu người, mức độ ƯD tin học của các DN và các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) trên địa bàn của 2 đối tượng này lại gần như nhau (HN cao hơn ở khối QLNN, Sơn La cao hơn một chút ở khối DN). Điểm mạnh của HN và TP. HCM là có nhiều DN, nhưng đó cũng là điều bất lợi do tỷ lệ các DN có kết nối Internet, có website không cao. Dân số đông cũng làm cho các chỉ tiêu về sử dụng điện thoại, chi ngân sách cho CNTT/đầu người của 2 thành phố này không cao bằng các địa phương có rất ít dân.

    Những tỉnh có môi trường tổ chức, chính sách (MTCS) tốt thì lại không có vị trí cao trong xếp hạng chung. Như vậy, có thể hiểu MTCS không có tác động gì nhiều đối với PT&ƯD CNTT-TT?

    Trong tốp 5 tỉnh đứng đầu về MTCS, không có tỉnh nào nằm trong tốp 10 của bảng xếp hạng chung. Và hầu hết các đối tượng (kể cả các bộ, ngành) có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng chung đều có thứ hạng không cao trong bảng xếp hạng về MTCS. Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng lại nói lên một thông điệp khác: MTCS do chúng ta tạo ra hình như chưa thực sự hiệu quả, chưa phù hợp, mang nặng tính duy ý chí (mà cụ thể là việc đánh giá thực trạng và dự báo chiến lược đều rất sơ sài, không khoa học), nên chưa thực sự tạo thuận lợi cho PT&ƯD CNTT-TT.

    Số liệu do các đối tượng cung cấp có bảo đảm khách quan và chính xác? VAIP có biện pháp nào để kiểm chứng?

    Do đây là lần đầu, nên các đối tượng còn lúng túng trong việc thu thập, tổng hợp số liệu. Các đầu mối có trách nhiệm báo cáo (do tỉnh phân công) còn thiếu thống nhất: hoặc sở Bưu Chính Viễn Thông, hoặc Sở Kế Hoạch Đầu Tư, hoặc văn phòng ủy ban tỉnh. Có thể nói, chúng ta chưa có ý thức tốt trong công tác thống kê tổng hợp và xây dựng các nhóm số liệu phục vụ phát triển. Những nguyên nhân trên có thể khiến số liệu chưa thật đủ chính xác. Tuy nhiên, số liệu được thu thập là khách quan, vì đến thời điểm thu thập, chẳng ai biết vị trí xếp hạng của mình nên hạn chế phần nào việc báo cáo sai.

    Chúng tôi đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm chứng, hiệu chỉnh số liệu, như: khi kiểm tra, phát hiện sự thiếu hụt hoặc không hợp lý của số liệu thì liên hệ, tiếp xúc qua điện thoại, e-mail với người thực hiện để xác minh, đề nghị bổ sung, chỉnh sửa. Một biện pháp khác là đề nghị và làm việc trực tiếp với các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng như VNPT, Viettel, EVN Telecom, Hanoi Telecom, Saigon Postel... để trao đổi, làm rõ vấn đề, đề nghị hỗ trợ. Ngoài ra, chúng tôi cũng thông qua các nguồn như niên giám thống kê, số liệu điều tra của Tổng Cục Thống Kê, website của các tỉnh/thành, bộ/ngành... Trong một số ít trường hợp, chúng tôi sử dụng giá trị trung bình của toàn bộ các đối tượng điều tra để bổ sung, điều chỉnh số liệu còn thiếu hoặc quá bất hợp lý.

    Các năm sau, VAIP có mở rộng diện khảo sát?

    Về nguyên tắc, có thể tăng thêm loại đối tượng, nhưng trước mắt có lẽ chúng tôi vẫn giữ nguyên 4 loại đối tượng như năm 2005 để đảm bảo tính ổn định của phương pháp. Còn về lâu dài, ICT Index sẽ được áp dụng cho nhiều loại đối tượng khác nhau, như khối doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đối tượng người sử dụng. Tuy nhiên việc thu thập số liệu và phương pháp đánh giá cho số đông sẽ thay đổi và cần nguồn lực đủ mạnh để triển khai.

    VAIP sẽ có những điều chỉnh gì trong việc thực hiện ICT Index năm sau, thưa ông?

    Chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện phương pháp luận và quy trình thu thập, kiểm tra, xử lý số liệu, trong đó có việc đề nghị UBND các tỉnh thống nhất giao việc thu thập số liệu về một đầu mối, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Trong việc kiểm tra tính chính xác của số liệu, có thể sẽ thêm khâu kiểm tra thực tế đối với một số đối tượng theo nguyên tắc lựa chọn ngẫu nhiên.

     
      ÔNG HỒ QUANG THÀNH, GIÁM ĐỐC SỞ BCVT TỈNH NGHỆ AN
    "Xếp hạng của Nghệ An (thứ 37) là phù hợp, vì mức độ sẵn sàng về ứng dụng CNTT-TT của Nghệ An chỉ ở mức trung bình. Chúng tôi chấp nhận như thế để phấn đấu. Tuy nhiên, có một số đơn vị khác hình như chưa được đánh giá chính xác lắm. Ví dụ Quảng Bình xếp trên Huế, Hà Tĩnh xếp trên Thanh Hoá là chưa được chuẩn.
    ICT Index là một đề tài khoa học, nhưng việc lấy các mẫu, thu thập các thông tin chưa thống nhất. Ví dụ, yêu cầu là lấy chỉ số A, nhưng lấy như thế nào, lấy ở đâu thì chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến các nguồn số liệu không giống nhau.
     
      Do đó, có thể số liệu sẽ phụ thuộc vào việc khai báo, một số tỉnh có thể không có số liệu chính xác. Riêng tôi cam đoan số liệu của Nghệ An là chuẩn và chính vì thế mà tôi yên tâm với vị trí của Nghệ An.
    Tôi đề nghị năm sau cần hướng dẫn thật chi tiết cách lấy thông tin và gửi thông tin, đồng thời việc thu thập số liệu nên đưa về một đầu mối là cơ quan QLNN về BCVT và CNTT. Việc nghiệm thu phải theo quy trình nghiệm thu của một đề tài khoa học. Phải có cách kiểm tra thông tin và bảo đảm số liệu chính xác. Nếu làm như thế, tôi chắc xếp hạng năm sau sẽ có sự hoán chuyển.
    Vì ICT Index là một đề tài khoa học, cho nên chúng ta nên sử dụng nó để tham khảo cho các kế hoạch ứng dụng và phát triển, chứ không phải là đánh giá để xếp thi đua tỉnh này hơn tỉnh kia. Tất nhiên VAIP xây dựng ICT Index là việc rất tốt. Có ICT Index, các tỉnh rất phấn khởi vì biết mình đang ở đâu. Tuy có một số điều chưa thật chính xác nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ. Về cơ bản, ICT Index đã hoàn thành và VAIP đã làm được một việc lớn".

     

    Nguyễn Hưng (thực hiện)

    ID: B0609_13