• Thứ Năm, 04/01/2007 14:14 (GMT+7)

    Quản lý quán net: Thực tế và quy định

    Khoảng 70% sở Bưu Chính Viễn Thông (BCVT) các tỉnh đề nghị xem xét lại một số quy định hiện hành về quản lý đại lý (ĐL) Internet, nhất là những yêu cầu như khách phải có chứng minh nhân dân, trẻ em dưới 14 tuổi phải có người lớn đi kèm, đại lý phải cài đặt phần mềm theo dõi thông tin truy cập của VNPT...

    Khoảng 70% sở Bưu Chính Viễn Thông (BCVT) các tỉnh đề nghị xem xét lại một số quy định hiện hành về quản lý đại lý (ĐL) Internet, nhất là những yêu cầu như khách phải có chứng minh nhân dân, trẻ em dưới 14 tuổi phải có người lớn đi kèm, đại lý phải cài đặt phần mềm theo dõi thông tin truy cập của VNPT...

    Nhiều quy định khó thực hiện

       

    Các sở BCVT đã thanh tra 12.029/20.726 ĐL Internet, đạt tỷ lệ hơn 58%. Tổng số tiền xử phạt là gần 4 tỉ đồng, trong đó riêng Đà Nẵng phạt 1 tỉ đồng.

     

     

     

    Đợt thanh tra diện rộng lần đầu tiên của bộ BCVT với các ĐL Internet công cộng được tổng kết vào ngày 22/12/2006. Thanh tra bộ BCVT và thanh tra nhiều sở BCVT đã nêu một số vướng mắc khi áp dụng thông tư liên tịch (TT) số 02 về quản lý ĐL Internet và TT 60 về quản lý DV trò chơi trực tuyến (game online):

    Phần mềm (PM) quản lý ĐL Internet của VNPT chạy không ổn định, thường xuyên trục trặc và máy chủ thường xuyên bị treo, tốc độ truy cập của máy tính cài PM này trở nên rất chậm, gây ảnh hưởng đến kinh doanh. PM chưa hiệu quả trong ngăn chặn trang web cấm. Để giữ khách, các ĐL đành bỏ PM, tiếp tục vi phạm.

    Việc lập sổ đăng ký sử dụng DV Internet trong đó yêu cầu thống kê đầy đủ, chi tiết các thông tin khách hàng như họ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu... rất khó thực hiện vì khách thấy phản cảm, thường phản đối quyết liệt, thậm chí bỏ đi. Do vậy các ĐL thường không thực hiện quy định này hoặc chỉ làm có tính chất đối phó với đoàn thanh tra.

    Quy định trẻ em dưới 14 tuổi phải có người bảo lãnh rất khó thực hiện. Đây là đối tượng khách hàng chiếm tỷ lệ cao nhưng người bảo lãnh không phải lúc nào cũng có điều kiện và thời gian để bảo lãnh.

    TT 02 quy định ĐL Interrnet được mở cửa từ 6-24 giờ, trong khi TT 60 chỉ cho phép mở từ 6-23 giờ, gây khó xử vì đa số ĐL cung cấp DV Internet lẫn game online. Một số sở BCVT cho rằng ĐL chỉ đăng ký DV Internet nhưng lại kinh doanh thêm DV game online là không đúng, nhưng các ĐL không chấp nhận cách hiểu này.

    Theo thanh tra bộ BCVT, khoảng 70% số sở BCVT cho rằng các quy định nêu trên là không khả thi và kiến nghị nên xem xét lại.

    Ngoài ra, ông Nguyễn Châu Sơn, phó trưởng ban Viễn Thông của VNPT, đại diện nhà cung cấp DV Internet (ISP) cho biết, hiện nay chưa có quy định thế nào là web sex, thế nào là giáo dục giới tính, nên cũng khó cho các ISP và các đoàn thanh tra trong việc ngăn chặn, kiểm tra xử phạt. Ông Sơn cho rằng Internet là công nghệ cao, nên dùng công nghệ cao để quản lý, giảm bớt các biện pháp hành chính.

    Ông Trần Văn Hòa, trưởng phòng Điều Tra Tội Phạm Công Nghệ Cao C15 đưa ra biện pháp quản lý ngay từ máy chủ của các ISP. Ông Hòa cho biết nhiều nước đã dùng biện pháp ghi các log truy cập Internet vào đĩa, lưu 6 tháng đến 1 năm. Đối với các hợp đồng thương mại điện tử thì lưu 5-7 năm. Như vậy, khi xảy ra vấn đề thì truy lại rất dễ và cũng "nhẹ gánh" cho ĐL Internet. Tuy nhiên, quản chặt thì các lợi ích sẽ bị thu hẹp nên cũng cần cân đối sao cho có đủ tự do để phát triển.

    Cần vận dụng linh hoạt

    Theo bà Lê Thị Ngọc Mơ, phó vụ trưởng vụ Viễn Thông (bộ BCVT), việc ban hành TT 02 và TT 60 chỉ là biện pháp tình thế. Do vấn đề truy nhập Internet thời gian qua rất phức tạp nên Chính Phủ yêu cầu có văn bản để quản lý. Các biện pháp hành chính như yêu cầu có người bảo lãnh, xuất trình CMND chỉ là biện pháp trước mắt để hạn chế trẻ em và bảo đảm an ninh thông tin của bộ CA, bộ VHTT. Về lâu dài, khi đất nước đã phát triển hơn, thì có thể không cần các biện pháp như thế nữa. Biện pháp chính vẫn là giáo dục, nâng cao văn hóa, dân trí...

    Bà Mơ cho rằng vì thực tế phức tạp và pháp luật không phải lúc nào cũng hoàn thiện nên, cần có sự mềm dẻo, linh hoạt khi vận dụng. Trong trường hợp các văn bản hơi "vênh" nhau thì nên giải quyết hợp tình hợp lý, bảo đảm tính khả thi. Ví dụ, DV game online cũng là một phần của DV Internet và không cần thiết phải phân biệt.

       

    Ông Lê Nam Thắng, thứ trưởng bộ BCVT
    Đây là lần thanh tra diện rộng đầu tiên, mục đích không phải để xử phạt, mà để giáo dục, tác động vào nhận thức của các ĐL và người dùng Internet. Kể cả một số tỉnh đã thanh tra mà không xử phạt thì cũng có tác dụng giáo dục. Trong lần này, việc xử phạt có chỗ chưa đồng đều, cách hiểu các văn bản chưa thống nhất, cần rút kinh nghiệm trong những năm tiếp theo.

    Ông Nguyễn Kim Hòa, giám đốc sở BCVT tỉnh Khánh Hòa
    Do các ĐL có công phổ cập Internet nên chúng tôi chủ yếu nhắc nhở, nhất là đối với các quy định ít tính khả thi. Đối với trẻ em, chúng tôi chỉ yêu cầu chủ ĐL bảo lãnh, vì hầu hết các em ở gần đó, chủ ĐL biết cả. Nếu yêu cầu bố mẹ, anh em đi kèm thì cứng nhắc, khó thực hiện. Với các máy có dấu vết web đen, chúng tôi xem kỹ thời gian, truy cập lâu mới phạt, vì có thể khách tình cờ bấm vào các đường link dẫn tới web đen, nhưng sau đó họ tắt đi.

     

    Ông Lê Nam Thắng, thứ trưởng bộ BCVT đồng ý với quan điểm nói trên và cho rằng những quy định không khả thi, không hiệu quả, không cần thiết thì phải xem lại. Đối với quy định xuất trình CMND, bộ BCVT sẽ trao đổi, thống nhất với bộ VHTT, bộ CA để có giải pháp thỏa đáng hơn (như cấp ID cho người sử dụng Internet). Đối với quy định ĐL Internet cách trường học 200m, nếu các ĐL đã làm từ trước khi có quy định thì cần linh hoạt. Việc xác định thế nào là web sex, bộ BCVT cũng sẽ làm việc với bộ VHTT, bộ CA để có quy định cụ thể. Việc yêu cầu các ĐL cài PM chỉ là triển khai bước đầu, VNPT phải hoàn thiện PM hơn để tránh gây khó khăn cho các ĐL.

    Về nguyên tắc quản lý, ông Thắng cho rằng không nên nhấn mạnh quá một giải pháp nào. Kỹ thuật hay công nghệ chỉ là một biện pháp và không phải lúc nào cũng hiệu quả. Phải sử dụng nhiều biện pháp tổng hợp, trong đó có biện pháp kinh tế. Bằng cơ chế hợp đồng, các ISP phải quản lý, ngăn chặn, và hạn chế bớt vi phạm, tránh dồn cho sở, bộ, và các cơ quan quản lý nhà nước. Các biện pháp khác là giáo dục, hành chính, pháp luật… trong đó giáo dục đặc biệt quan trọng. Tùy từng giai đoạn mà nhấn mạnh giải pháp thích hợp. Trong quản lý cần phân rõ từng cấp: cơ quan quản lý - ISP - ĐL Internet - người dùng, ai chịu trách nhiệm gì phải rõ ràng, không dồn hết trách nhiệm cho ĐL. Việc quản lý cần đạt mục đích nhưng phải theo kịp sự phát triển như tinh thần nghị định 55/2001/NĐ-CP của Chính Phủ.

    Khánh Trang

    ID: B0701_13