• Thứ Bảy, 03/02/2007 10:16 (GMT+7)

    Tương lai của CNTT Việt Nam

    Trong một phát biểu đầu năm 2007, sau khi nói về dự án đầu tư nhà máy trị giá 1 tỷ USD tại Khu Công Nghệ Cao TPHCM đã được tập đoàn Intel quyết định trong năm 2006 cùng nhu cầu rất lớn về nhân lực, ông Thân Trọng Phúc, tổng giám đốc Intel Việt Nam đã cho biết là phần lớn kiến thức của ông học được từ sách báo và Internet. Phương châm hành động của ông chính là câu nói nổi tiếng của TS Alain Kay - người sáng tạo ra con chuột máy tính: “Cách dự đoán tương lai tốt nhất là hãy tạo ra tương lai...”

    Intel và rất nhiều tập đoàn công nghệ đã dự báo tương lai cho mình bằng cách tạo ra tương lai. Vậy thì tương lai của CNTT Việt Nam sẽ là như thế nào và chính người Việt Nam phải làm gì để tạo ra tương lai đó? Việt Nam không thể trông vào việc đóng góp thành tựu cho nền khoa học thế giới mà tốt hơn là làm thế nào triển khai, ứng dụng được những thành tựu của thế giới cho chính Việt Nam. Vậy thì những dự báo tương lai, hay nói theo cách mà ông Thân Trọng Phúc rất tâm đắc là tạo ra tương lai cần phải làm như thế nào? Câu trả lời đôi khi lại là những thực tế không thể ngờ.

    Ngay trong tuần đầu tiên của năm 2007, một nhóm sinh viên ở ĐH KHXH&NV TP.HCM đã công chiếu bộ phim truyện “Chuyện lạ” do chính họ thực hiện từ A đến Z với khoản kinh phí tự quyên góp vỏn vẹn 5 triệu đồng. Phim được quay bằng máy quay video số thông dụng, dựng phim, lồng tiếng được thực hiện bằng máy tính với những phần mềm không khó tìm mấy. Mặc dù diễn xuất, đạo diễn, cảnh quay của bộ phim còn rất “nghiệp dư”, nhưng ý nghĩa mang lại rất lớn bởi đây chính là ứng dụng CNTT vào quá trình sáng tạo, sản xuất phim. Qua sự việc này, bản thân những người làm CNTT và cả sinh viên ngành CNTT tại Việt Nam nghĩ gì, cần phải làm gì để tạo ra tương lai cho chính mình? Định hướng trở thành những chuyên viên phần mềm, phần cứng, mạng… là rất quan trọng, song đó cũng chỉ là một trong những lựa chọn. Định hướng ứng dụng cũng quan trọng không kém, thậm chí phải được quan tâm nhiều hơn, với điều kiện Việt Nam hiện nay.

    Bắt đầu từ năm học 2006 – 2007, tin học đã trở thành môn học chính thức ở lớp 10 của bậc học THPT. Một học kỳ đã trôi qua trong tình trạng ở nhiều trường vừa thiếu máy tính, vừa thiếu giáo viên cho môn học này. Máy móc thiết bị tin học quả là điều khó nhưng vẫn có thể thực hiện được bằng con đường xã hội hoá giáo dục thay vì trông chờ ngân sách nhà nước. Nhưng giáo viên dạy tin học có thể là sự lựa chọn của chính sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT nếu được trang bị thêm nghiệp vụ sư phạm, chứ không chỉ là công việc riêng của các trường thuộc khối sư phạm. Vậy nhưng thực tế lại chẳng đơn giản. Bởi để có giáo viên dạy tin học, một số trường THPT ở TP.HCM và Hà Nội đã chủ động tuyển sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT, nhưng khả năng đáp ứng còn hạn chế. Mặc dù thiếu nhưng tình trạng thất nghiệp của sinh viên ngành CNTT là một điều thực tế. Đây cũng là tình trạng chung của rất nhiều ngành học ở Việt Nam, không riêng gì CNTT. Trong khi những định hướng mang tính “mũi nhọn, trọng điểm” với những kiến thức “cao siêu, bác học” vẫn gắn bó với học đường…, thì các nội dung về ứng dụng CNTT, nhu cầu tin học hoá của các lĩnh vực... cũng quan trọng không kém lại không được quan tâm trong chương trình đào tạo.

    CNTT Việt Nam sẽ là như thế nào khi mà chúng ta vẫn nói nhiều đến “đi tắt, đón đầu”, trong khi số đông lại không trả lời được những câu hỏi tưởng chừng đơn giản? Rõ ràng là không có công nghệ nào biến đổi nhanh chóng và thâm nhập vào mọi lĩnh vực như CNTT. Và những dự báo về tương lai của thế giới trong bất kỳ lĩnh vực nào đều hàm chứa CNTT trong đó. Vậy thì CNTT Việt Nam phải làm gì để đến với những tương lai đó? Chính các lĩnh vực có nhu cầu ứng dụng CNTT, cộng đồng CNTT Việt Nam và các nhà hoạch định chính sách CNTT cần chủ động trả lời câu hỏi này!

    Tân Khoa (tổng hợp)

    ID: B0702_6