• Thứ Tư, 18/04/2007 16:15 (GMT+7)

    UBND TP.HCM và giải Sao Khuê 2007

    Ngày 17/4/2007, đoàn thẩm định giải Sao Khuê do ông Nguyễn Đình Thắng, phó chủ tịch hiệp hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA – đơn vị phối hợp với bộ BCVT tổ chức giải thưởng Sao Khuê) làm trưởng đoàn và ông Trương Hoài Trang, phó chủ tịch VINASA, phó đoàn cùng các thành viên đã có buổi làm việc với giám đốc sở BCVT TP.HCM Lê Mạnh Hà.

    Ông Nguyễn Đình Thắng (thứ hai từ bên trái) và đoàn thẩm định
    Được biết, vào ngày 3/4/2007, hội đồng bình chọn sơ tuyển toàn quốc giải thưởng Sao Khuê 2007 đã chọn được 56 đề cử xuất sắc nhất cho các danh hiệu vượt qua vòng sơ khảo. Trong đó, có 2 đề cử cho lĩnh vực hoạch định và thi hành chính sách CNTT: UBND TP.HCM (đơn vị) và nguyên thứ trưởng thường trực bộ BCVT Mai Liêm Trực (cá nhân). 4 đề cử doanh nghiệp tiêu biểu ứng dụng ERP: Kho Bạc Nhà Nước Việt Nam, tập đoàn Prime Group, công ty cổ phần Mía Đường Lam Sơn, xí nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Vietso Petro; 2 đề cử đơn vị truyền thông xuất sắc về CNTT: tạp chí Thế Giới Vi tính, chương trình truyền hình Cuộc Sống Số; 10 đề cử cho danh hiệu doanh nghiệp phần mềm tiêu biểu: gồm các doanh nghiệp GHP Far East, DTT, IACP Asia, FCG, FAST, Vina Game; 33 đề cử cho danh hiệu sản phẩm và dịch vụ phần mềm tiêu biểu Việt Nam; 4 đề cử cho nhóm sản phẩm, giải pháp thương mại điện tử; 1 đề cử cho nhóm sản phẩm và dịch vụ phần mềm nước ngoài.

    Trước buổi thẩm định, ông Nguyễn Đình Thắng cho biết đây là một thủ tục cần thiết để trao giải: “Nếu thông tin của buổi thẩm định khớp với báo cáo của UBND TP.HCM trong đề nghị trao giải thì việc trao giải cho UBND TP.HCM sẽ được thực hiện vào ngày 22/4/2007. Dự kiến, đích thân Thủ Tướng Chính Phủ sẽ trao giải này”.

    Xây dựng thành phố điện tử

    Trả lời các câu hỏi của đoàn thẩm định, ông Lê Mạnh Hà cho biết: “Quan điểm của lãnh đạo UBND TP.HCM hơi khác một chút so với quan niệm trước đây về ứng dụng và phát triển CNTT. Ứng dụng CNTT-TT theo UBND TP.HCM là để phục vụ người dân, trang bị công cụ cho cán bộ công chức làm việc phục vụ nhân dân. Mục tiêu chiến lược của TP.HCM là trở thành thành phố điện tử. TP.HCM lấy địa bàn ứng dụng cấp quận huyện làm tâm điểm thực hiện chiến lược do thông tin phát sinh nhiều nhất từ khu vực này”.

    Báo cáo chi tiết về tình hình đầu tư, ứng dụng CNTT-TT, sở BCVT cho biết, tỷ lệ máy trên công chức tại TP.HCM là 0,7 nhưng nếu tính cả số máy trang bị cho các nhân viên không phải công chức đang làm việc trong các cơ quan quản lý ở TP.HCM thì tỷ lệ đó còn cao hơn. TP.HCM có khoảng 300 cán bộ chuyên trách CNTT và gần 100% số này đã sử dụng máy tính. Máy tính trong hệ thống quản lý nhà nước ở TP.HCM đã nối mạng nội bộ và gần như 100% nối Internet. Tổng mức đầu tư cho ứng dụng CNTT tại các cơ quan quản lý nhà nước TP.HCM là 200 tỷ đồng (2005 – 2006), trong đó, giải ngân được 100 tỷ đồng. “Theo nhu cầu, TP.HCM đầu tư cho CNTT ở mức… không hạn chế” – ông Hà nói.

    Các lĩnh vực chính về CNTT-TT từ chính quyền điện tử, phát triển công nghiệp CNTT, phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông tại địa bàn đều có những thành quả ấn tượng. Về chính quyền điện tử, 2 năm vừa qua, TP.HCM đã phát triển rất nhanh. Việc tin học hoá cải cách hành chính đã ứng dụng mạnh tại 22/24 quận, huyện. Người dân có thể sử dụng điện thoại di động (cả dịch vụ SMS), điện thoại bàn, hay mã vạch (in trên giấy hẹn) để biết tình trạng hồ sơ chờ giải quyết. “Người dân có thể biết hồ sơ đang ở phòng nào; lãnh đạo biết hồ sơ đang nằm trên bàn của nhân viên nào” – ông Hà giải thích.

    TP.HCM còn được nhiều người biết đến với hệ thống một cửa hành chính, hệ thống đăng ký qua mạng. Tùy giai đoạn, các sở ngành “trọng điểm” sẽ được lựa chọn để đầu tư ứng dụng CNTT. Ví dụ, hiện đang là thời điểm những vấn đề nhà cửa, đất đai được quan tâm nhiều nhất thì lĩnh vực kiến trúc, quản lý đô thị và xây dựng được coi là “trọng điểm”. Về phần mềm, sở BCVT đã tham mưu cho UBND TP.HCM mua phần mềm của các doanh nghiệp thay vì tổ chức phát triển. Điều này một mặt giải quyết tốt tiến độ, mặt khác, phát triển tốt thị trường (các công ty trong nước có thể tiếp tục đầu tư cho những giải pháp sẽ bán cho các cơ quan nhà nước).

    Ông Lê Mạnh Hà (bìa trái) và các quan chức sở BCVT - TPHCM
    TP.HCM cũng là nơi có cổng giao dịch điện tử lớn với hơn 2.000 doanh nghiệp đã đăng ký sử dụng. Về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực CNTT, TP.HCM có hơn 6.000 (tính cả các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề). Hiện có hơn 500 doanh nghiệp thực sự hoạt động trong lĩnh vực CNTT-TT tại TP.HCM. Hạ tầng và truyền thông ở TP.HCM đều phát triển tốt. Số thuê bao điện thoại đạt 116 trên 100 dân (chung cho hai loại hình di động và cố định). Toàn thành có gần 700.000 thuê bao dial-up và 230.928 thuê bao ADSL. Nếu tính quy đổi thì số kết nối Internet toàn thành vượt số dân (có đăng ký hộ khẩu). Toàn thành có hơn 4.500 điểm Internet công cộng. “Ngoài một số tác động tiêu cực nhỏ, các điểm Internet công cộng đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân TP.HCM” – ông Hà nói.

    Về xã hội hoá đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT-TT và công nghiệp phần mềm tại địa phương, ông Hà nói: “Trừ khối trường công lập, việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT tại TP.HCM đã hoàn toàn xã hội hoá”. TP.HCM ngoài 35 ĐH, 44 CĐ, 29 THCH đào tạo về CNTT còn có hệ thống đào tạo phi chính quy hùng hậu: 50 trung tâm; hơn 100 cơ sở phổ cập tin học và cấp chứng chỉ A,B…; 54 viện và phân viên nghiên cứu về CNTT-TT. Sở BCVT TP.HCM đã tham mưu cho UBND TP.HCM đào tạo CNTT cho công chức theo công việc được giao. Giới lãnh đạo, địa phương tại TP.HCM thường tổ chức những lớp học nhỏ và từ đó tác động tích cực đến việc tin học hoá tại đơn vị của họ. Một sáng kiến của TP.HCM đang được xem xét hiện nay là thành lập quỹ (khoảng 20 tỷ đồng) hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực bằng cách cho cá nhân vay để học CNTT-TT.

    Chưa hết khó khăn…

    Đánh giá hiệu quả kinh tế - văn hoá - xã hội nhờ ứng dụng phần mềm và CNTT-TT tại địa phương, ông Lê Mạnh Hà nói: “Nếu TP.HCM không ứng dụng CNTT-TT thì không có cách gì đáp ứng được nhu cầu phục vụ người dân. Việc ứng dụng CNTT-TT ở TP.HCM là rất cấp bách”.

    Về các khó khăn, tồn tại trong quá trình phát triển ứng dụng CNTT-TT trên địa bàn, ông Hà cho biết: “Nhận thức chung về vai trò của CNTT-TT chưa phải đã thông suốt ở mọi nơi. Việc tổ chức thực hiện cũng chưa cụ thể - thống nhất. Với quy mô toàn quốc (điều đó ảnh hưởng đến địa phương), chúng ta chưa có “nhạc trưởng”. Không còn chế độ ưu đãi cho người làm CNTT trong các cơ quan nhà nước cũng là một khó khăn mới”.

    Như Dũng

    ID: O0704_1