• Thứ Tư, 07/11/2007 08:47 (GMT+7)

    Đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học: Kịp thời - chất lượng - hiệu quả

    “Nghiên cứu khoa học hiện nay phải “kịp thời - chất lượng - hiệu quả”, tức là: kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao chất lượng nghiên cứu và đạt hiệu quả” - ông Phan Minh Tân, giám đốc sở KHCN TP.HCM.

    “Nghiên cứu khoa học hiện nay phải “kịp thời - chất lượng - hiệu quả”, tức là: kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao chất lượng nghiên cứu và đạt hiệu quả” - ông Phan Minh Tân, giám đốc sở KHCN TP.HCM.

    Cần gắn với thực tiễn

    Theo thống kê của sở Khoa Học Công Nghệ TP.HCM, hàng năm, sở triển khai nghiên cứu trung bình từ 200-300 đề tài, dự án khoa học công nghệ (KHCN). Tỷ lệ ƯD các đề tài sau nghiệm thu là 70-80% (với nhiều tiêu chí ứng dụng (ƯD): tham khảo, trích đăng tạp chí chuyên ngành, triển khai phòng thí nghiệm, làm tiền đề cho triển khai ƯD, ƯD thử nghiệm, chuyển giao cho đơn vị đặt hàng, in thành sách hay giáo trình giảng dạy, sản xuất đại trà hoặc xây dựng thành quy trình). Tỷ lệ đặt hàng của các đề tài khoảng 40%. Nhiều đề tài dự án làm lợi cho DN hàng tỷ đồng.

    Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp của KHCN tại TP.HCM vào sự tăng trưởng kinh tế, nhất là phát triển bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân còn khiêm tốn. Sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học (NCKH) trong nước với sản xuất kinh doanh còn chưa tốt. Phần lớn đề tài sau khi nghiệm thu 1-2 năm mới đưa được vào thực tế. Một số đề tài chưa chứng minh được hiệu quả, hoặc kéo dài thời gian nghiên cứu làm cho kỹ thuật lạc hậu, không đáp ứng nhu cầu. Đầu tư cho KH vừa thấp, vừa dàn trải...

    Vì vậy, sở KHCN TP.HCM phối hợp với báo SGGP, với sự tài trợ của công ty FPT, ngày 22/10/2007, tại TP.HCM đã tổ chức tọa đàm “ƯD nhanh và hiệu quả đầu tư các đề tài NCKH”. Buổi tọa đàm bàn về vai trò của tam giác liên kết DN - nhà KH - nhà quản lý (QL); đề xuất giải pháp cho việc nghiên cứu, phổ biến, chuyển giao ƯD để NCKH sớm đi vào thực tiễn.

    Là mắt xích của một quy trình...

    Theo ông Hoàng Minh Châu, phó tổng giám đốc FPT thì cần xem NCKH như việc tạo ra sản phẩm thực thụ. Quy trình sản phẩm phải đi từ ý tưởng, thiết kế, sản xuất đến phân phối ra thị trường, kể cả tiếp thị, quảng bá và nâng cấp liên tục. Những điều này không thể bắt nhà KH làm từ đầu đến cuối mà phải có nhiều bên cùng tham gia.

     

    Nhà KH-DN-nhà QL là tam giác liên kết cần có để phát triển KHCN. Từ trái sang: ông Trần Thành Đạt (đại diện DN), bà Hoàng Kim Anh (nhà khoa học), ông Nguyễn Trọng Hùng (Hiệp hội), ông Phan Minh Tân (nhà QL), ông Hoàng Minh Châu (DN), và 2 nhà KH đến từ các ĐH: GS Lưu Duẫn và ông Phan Đình Tuấn.

    Ông Trần Thành Đạt, giám đốc công nghệ của tổng công ty Cơ Khí Giao Thông Vận Tải Sài Gòn cũng nhận định: “Cần đặt DN vào vị trí trung tâm thay vì các nhà KH. DN phải là nơi xuất phát, nơi tiến hành và triển khai đề tài, là đối tác chính của các nhà KH”. Nhưng làm thế nào để DN tham gia vào quá trình NCKH, từ khâu hình thành ý tưởng đến sản xuất? Theo ông Đạt, nhiều DN còn chưa có yêu cầu cụ thể, vì vậy, trước hết phải hỗ trợ, tư vấn để DN thay đổi nhận thức về hoạt động công nghệ. DN cần được thông tin về năng lực của lực lượng KH trong nước.

    Lúc này vai trò của nhà QL được đặt ra. Đó là vai trò kết nối nhà KH với DN nhằm tư vấn cho DN cách thức đầu tư công nghệ mang lại hiệu quả; thậm chí nhà QL nên thực hiện cả vai trò tổ chức tiếp thị cho hoạt động NCKH. “Nhà KH hiện nay đang “bán kiến thức mình có” mà chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Trong khi DN Việt Nam thì phần lớn sẵn sàng đầu tư thiết bị nước ngoài chứ chưa tin tưởng nhà KH và thiết bị sản xuất tron g nước. Để khắc phục, DN nên đưa ra đề tài, nhà KH có thể tham gia đấu thầu dự án. “Bên” còn lại, nhà QL, là nơi cho biết DN cần gì và nhà KH làm được gì” - nhà KH, TS Hoàng Kim Anh góp ý.

    Những đề xuất khác: Cần hoàn thiện cơ chế giám sát, phản biện đề tài NCKH, thậm chí có thể xây dựng tổ chức chịu trách nhiệm phản biện; Mỗi dự án phải quy định phần chi cho tư vấn, phản biện và người phản biện phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối chứ không chỉ tham gia một phần; Nhà QL nên đi sâu sát với hoạt động của hiệp hội ngành nghề bởi vì đây là nơi đưa ra nhu cầu sát với thực tế nhất; Việt Nam cần thâm nhập vào chuỗi giá trị NCKH của thế giới (tức là tham gia nghiên cứu một mảng nào đó trong một đề tài NCKH tầm cỡ của thế giới); Cần thành lập các viện nghiên cứu tư nhân; Nghiên cứu cơ bản nên đưa về các trường ĐH...

    Đổi mới tư duy NCKH

    “Chợ” thiết bị công nghệ trên mạng do sở KHCN TP.HCM thiết lập (www.techmart.cesti.gov.vn).

     

    Đổi mới tư duy NCKH là nhu cầu bắt buộc để các đề tài, dự án NCKH mang lại hiệu quả. Giám đốc sở KHCN TP.HCM Phan Minh Tân chỉ rõ điều này và khẳng định: “TP.HCM đã và đang đổi mới cơ chế QL, đặt biệt thể hiện rõ trong quyết định 3187/QĐ-UB ngày 20/7/2007 về việc “Ban hành quy chế QL các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu KH và phát triển công nghệ TP.HCM”. Theo đó, đề tài do nhà KH đề xuất nếu không có địa chỉ ƯD thì Sở không cấp kinh phí; cơ quan đặt hàng và cơ quan ƯD có trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ khinh phí nghiên cứu; kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu, sở KHCN tổ chức bàn giao cho cơ quan ƯD và cơ quan này có trách nhiệm báo cáo kết quả ƯD 6 tháng/lần. Các kết quả nghiên cứu sẽ được đưa lên trang web của Sở KHCN, chuyển giao cho trung tâm Thông Tin KHCN để nhiều nơi có thể tìm hiểu ƯD”.

    Nhưng sở KHCN vẫn tập trung đầu tư cho dự án công nghệ trọng điểm để phục vụ chuyển dịch cơ cấu của thành phố. “Thành phố sẵn sàng đầu tư những dự án lớn, ví dụ: sản xuất máy CNC cho ngành đóng tàu, ô tô. Những nghiên cứu này kéo dài 3-5 năm, chi phí hàng triệu USD. Một số dự án khác Sở dự kiến tiến hành là: Sản xuất pin mặt trời, máy tính chuyên dụng cho bệnh viện, quốc phòng... Sở sẽ dành khinh phí NCKH hành năm 30-45% (tức 20-25 tỷ đồng) cho một số dự án lớn và khoa QL công nghiệp của ĐH Bách khoa đang được giao xác định những loại sản phẩm công nghệ cao có lợi cho TP.HCM. Ngoài ra, Sở sẽ đầu tư nâng cấp hạ tầng phục vụ nghiên cứu của thành phố và đang làm việc với khu công nghệ cao TP.HCM để có được khu sản xuất, ƯD thử nghiệm (20-30 ha) các kết quả nghiên cứu KH” - ông Tân cho biết.

    Huyền Sa

    ID: B0711_10