• Thứ Hai, 14/01/2008 07:11 (GMT+7)

    Hội nghị chính phủ điện tử lần 5: Lý thuyết & thực tế

    Dù còn bàn cãi về chữ nghĩa, chính phủ điện tử - giao tiếp Nhà Nước và công dân qua mạng máy tính giải quyết những công việc do cuộc sống đặt ra - ngày càng trở nên cần thiết.

    Dù còn bàn cãi về chữ nghĩa, chính phủ điện tử - giao tiếp Nhà Nước và công dân qua mạng máy tính giải quyết những công việc do cuộc sống đặt ra - ngày càng trở nên cần thiết.

    Bước tiến dài của TP.HCM

    Hội nghị chuyên đề chính phủ điện tử (CPĐT) lần 5 tại TP.HCM cho thấy dù khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế trong phạm trù CPĐT còn rất lớn, thì vẫn đáng mừng là nó (CPĐT) đã và đang hiện diện ngày một cụ thể và căn cơ hơn.

    Tại hội nghị, ông Lê Mạnh Hà, giám đốc sở BCVT TP.HCM khẳng định: “Không có Internet - không có CPĐT”. TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung đã có hạ tầng CNTT và Internet tương đối tốt nên tiền đề cho CPĐT cũng tốt. TP.HCM hiện có trên 8,6 triệu thuê bao điện thoại (khoảng ¼ của cả nước), trong đó có 7 triệu ĐTDĐ và 1,6 triệu điện thoại cố định. Thuê bao ADSL hiện có trên địa bàn là khoảng 400.000, chiếm 50% lượng thuê bao ADSL quốc gia. “Đô thị nối mạng” này hiển nhiên có điều kiện hơn các địa phương còn lại trong phát triển và ứng dụng CPĐT. “Từ 2005 đến nay là giai đoạn TP.HCM xây dựng CPĐT một cách chuyên nghiệp với bộ máy chuyên nghiệp, mục tiêu rõ ràng, kế hoạch trọng tâm và triển khai bài bản”, ông Hà nói.

    Hội nghị chuyên ðề về chính phủ ðiện tử lần thứ 5 do
    bộ TTTT, sở BCVT TP.HCM phối hợp với tập ðoàn Dữ
    Liệu Quốc Tế IDG tổ chức tại TP.HCM, ngày 5/12/2007.
    Những việc TP.HCM đã làm gồm xác định những nội dung cơ bản như chuyển dịch vụ công thông thường sang dịch vụ công trực tuyến; chuyển xử lý hồ sơ bằng tay sang xử lý bằng máy tính; kết nối các máy tính riêng rẽ vào hệ thống máy tính... Chính quyền TP.HCM xác định rõ CPĐT là phục vụ người dân, giúp cơ quan quản lý xử lý thông tin nhanh, nhiều và chính xác, công khai và minh bạch hóa hoạt động của cơ quan nhà nước... “CPĐT vừa là công cụ vừa là nội dung của cải cách hành chính”, ông Hà nhấn mạnh. Trước mắt, TP.HCM tập trung thực hiện “CPĐT hoá” những lĩnh vực nóng như đất đai – xây dựng; đăng ký kinh doanh ...

    “Khi chưa có kiến trúc CNTT quốc gia, TP.HCM đã chủ động xây dựng kiến trúc CNTT và lập kế hoạch đầu tư xây dựng CPĐT theo kiến trúc này. Trước tiên là ở cấp quận huyện – nơi phục vụ người dân nhiều nhất, trực tiếp nhất và có khối lượng thông tin cần xử lý nhiều nhất”. Ông Hà giới thiệu những điển hình ứng dụng theo chiều hướng xây dựng CPĐT như trang web www.hochiminhcity.gov.vn, nơi “một cửa điện tử” xuất hiện lần đầu và dịch vụ “cấp phép qua mạng”...

    “Hiện các quận huyện cấp 52 loại giấy phép thì đã có 50 loại thuộc 6 lĩnh vực được ứng dụng CNTT. Ở cấp thành phố, gần 90 quy trình cấp phép đã ứng dụng CNTT tại các sở KHĐT, Thương Mại, VH-TT, KHCN, Tư Pháp và ban quản lý khu chế xuất – khu công nghiệp...” ông Hà giới thiệu và cho biết: “Những nét chính trong kế hoạch phát triển CPĐT của TP.HCM là: Ứng dụng CNTT cho tất cả các quy trình cấp phép và cấp phép trực tuyến khi đảm bảo các điều kiện pháp lý; thực hiện mua sắm, đấu thầu qua mạng đối với các cơ quan nhà nước; tạo luồng thông tin tự động giữa các hệ thống của sở, ngành, quận, huyện; hoàn thiện mạng truyền dẫn tốc độ cao; xây dựng trung tâm dữ liệu cấp thành phố; nâng cấp trung tâm chứng thực chữ ký số; trở thành bộ phận trong cấu trúc CNTT quốc gia, tích hợp thông tin cung cấp cho chính phủ...”.

    Lúng túng ở bình diện quốc gia?

    Theo khảo sát toàn cầu của ĐH Brown (Mỹ), Việt Nam đã xếp hạng 90/198 quốc gia thay vì 126 như năm 2006 về CPĐT. Thế nhưng, cũng có chuyên gia đặc biệt bi quan. TS Mai Anh, tổng thư ký hội Tin Học Viễn Thông Hà Nội cho biết, sau 20 năm ứng dụng CNTT, Việt Nam vẫn chỉ dừng ở mức “nâng cao nhận thức”. Ông Mai Anh viện dẫn: Việt Nam chưa có chương trình quốc gia về CPĐT và đến năm 2010 cũng chưa thể có. Như vậy là đã quá muộn so với cam kết e-ASEAN. “Sự chậm trễ này do quan niệm cho rằng CPĐT là của các chuyên gia, không liên quan đến Chính Phủ. Một phần do mọi người chưa hiểu lắm về CNTT, phần khác do thiếu động lực”, ông Mai Anh giải thích.

         

    Chính Phủ vừa ban hành nghị định 179/2007/NĐ-CP về quy chế làm việc, theo đó, mỗi thành viên của Chính Phủ có một hộp thư điện tử riêng để gửi, nhận thông tin và được trang bị máy tính để phục vụ công việc. Đây sẽ là tiền đề tốt cho CPĐT tương lai.

       

    Hay như ông Nguyễn Đình Đỉnh, phó giám đốc sở BCVT tỉnh Lâm Đồng trao đổi với TGVT bên lề hội nghị: “Không thể bỏ qua thực tế CPĐT chính là một thách thức. Chúng ta đều biết, tại một tổ chức (TC), DN, nếu người lãnh đạo quan tâm đến CNTT thì việc ứng dụng CNTT ở TC/DN đó sẽ tốt và ngược lại. Và, nếu người lao động trong TC/DN hưởng ứng sử dụng thì dự án sẽ có hiệu quả. CPĐT chỉ được triển khai thuận lợi và hiệu quả khi mà Nhà Nước (cụ thể là Chính Phủ) quan tâm và có nhu cầu, công dân hưởng ứng khai thác”.
    “Hiện tại, các cơ quan nhà nước chỉ tập trung vào các chỉ số như: bao nhiêu người dùng Internet, bao nhiêu công chức sử dụng được máy tính, bao nhiêu máy tính được trang bị... mà chưa quan tâm đến bao nhiêu loại giấy tờ được thay thế bằng thủ tục điện tử, ích lợi công dân và cơ quan công quyền khi ứng dụng CNTT...”, ông Mai Anh nói.

    Là một trong những diễn giả chính, ông James Yong, – giám đốc các chương trình khu vực công Đông Nam Á của Cisco Systems cho biết có đến 35% dự án CPĐT trên toàn thế giới bị thất bại hoàn toàn và 50% thất bại một phần. Nguyên nhân do sự trì trệ của người dân, công chức và áp dụng rập khuôn mô hình của các nước khác. Âu cũng là lý do chính đáng để Chính Phủ cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết đáp cho một cái gì tương tự “Chương trình CPĐT”... (Bài học thất bại của đề án 112 sẽ còn tác động rất lâu đến những quyết định lớn).

    Ứng dụng CNTT để tránh... kẹt xe!

    Nhìn trên bình diện quốc gia, mọi người đều thừa nhận không phải dự án CNTT nào cũng được hưởng ứng từ phía người dùng, dẫn đến không có động lực cho bên thực hiện. Nếu tính kỹ trên tất cả các trang web đã xây dựng được ở Việt Nam trong 10 năm qua (kể từ ngày Internet chính thức vào Việt Nam), số lượng trang web “ít dùng hay không được dùng” rất nhiều. Ví dụ, ngày 7/12/2007, báo Lao Động đưa tin: “Có đến 5/13 trang web của các sở, ban, ngành tại Đà Nẵng đã rơi vào tình trạng tự “đóng cửa” từ khi ra đời năm 2004 đến nay. Ngoài trang web của sở Nội Vụ được cập nhật thường xuyên, phần lớn các trang web đều ở tình trạng “tê liệt” hoặc rất ít thông tin, chỉ khai thác từ các báo in”. Cũng do khi xây dựng các trang web, các TC/DN không ý thức hết được những khó khăn của việc duy trì một trang web “sống” và mang lại hiệu quả.

    Mặc dù không nhiều tham luận mang lại ý tưởng mới, tại hội nghị chuyên đề CPĐT 2007 vẫn có sự khác biệt: Lần đầu tiên, các chuyên gia đã đề cập tới một bài toán rất lớn, dùng CNTT quản lý giao thông đô thị: tích hợp quản lý, điều khiển các hệ thống đèn tín hiệu, camera quan sát và biển quảng cáo điện tử, từ đó giảm ùn tắc và tai nạn giao thông... Một số ý kiến tuy ít khả thi nhưng nếu hiện thực hóa được thì việc giải bài toán này chính là một hiện thân tốt của CPĐT. Ông Phùng Văn Ổn, giám đốc trung tâm Tin Học bộ GTVT khuyên người dân trong trường hợp cho phép nên ứng dụng CNTT thay vì ra đường nhiều để tránh kẹt xe(!). Ngành GDĐT cần đẩy mạnh các hoạt động đào tạo qua mạng. Các cơ quan, công sở nếu được cũng nên cho nhân viên làm việc qua mạng để giảm lưu lượng tham gia giao thông. Những đề xuất này còn vướng nhiều quy định hiện hành cần được Thủ Tướng Chính Phủ xem xét. Đồng thời, chuyên đề ứng dụng CNTT quản lý giao thông đô thị cũng đã được tiếp xúc với kinh nghiệm từ Đài Loan, Thuỵ Điển...

    Các chuyên gia tham dự hội nghị đều thống nhất: để xây dựng CPĐT: Việt Nam cần phổ cập Internet, đào tạo nguồn nhân lực, thay đổi tư duy của người dân và công chức...

     

    NHỮNG VIỆC LÀM CỤ THỂ
    Trong nửa đầu tháng cuối năm 2007, Văn Phòng Chính Phủ đã có công văn truyền đạt ý kiến của phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu bộ TTTT gửi đề án “Chương trình ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước giai đoạn 2007 – 2010” tới các bộ, ngành, địa phương để lấy ý kiến bằng văn bản rồi tổng hợp, chỉnh sửa lần cuối. Đề án này nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước...
    Khi bài viết này chuẩn bị lên khuôn, đã có tin bộ Tài Chính đồng ý cho triển khai thí điểm sử dụng biên lai thu thuế, phí và lệ phí tự in từ máy tính khi cơ quan, tổ chức nhận uỷ nhiệm thu thực hiện thu tiền thuế, phí và lệ phí của người nộp thuế tại một số quận ở TP.HCM (từ 1/1 – 30/6/2008). Việc này có kế hoạch mở rộng thực hiện sang các địa bàn còn lại của TP.HCM và một số địa phương khác đủ điều kiện trong thời gian tiếp theo đến cuối năm 2008, trước khi triển khai toàn quốc. Lãnh đạo tổng cục Thuế cho rằng việc sử dụng hóa đơn tự in từ máy tính là bước tiếp theo của quá trình cải cách hành chính với ngành.

     

    Nguyễn Như Dũng

    ID: B0801_14