Minsk-32, từ tháng 2/1974, máy đã làm việc liên tục: Năm 1974, máy làm việc 16 giờ/ngày đêm; năm 1975 làm việc 24 giờ/ngày đêm vẫn không đáp ứng nhu cầu." /> Minsk-32, từ tháng 2/1974, máy đã làm việc liên tục: Năm 1974, máy làm việc 16 giờ/ngày đêm; năm 1975 làm việc 24 giờ/ngày đêm vẫn không đáp ứng nhu cầu."/> Minsk-32, từ tháng 2/1974, máy đã làm việc liên tục: Năm 1974, máy làm việc 16 giờ/ngày đêm; năm 1975 làm việc 24 giờ/ngày đêm vẫn không đáp ứng nhu cầu." />
  • Thứ Sáu, 11/04/2008 12:39 (GMT+7)

    Những tính toán đầu tiên trên máy tính điện tử Minsk-32

    Sau khi lắp máy Minsk-32, từ tháng 2/1974, máy đã làm việc liên tục: Năm 1974, máy làm việc 16 giờ/ngày đêm; năm 1975 làm việc 24 giờ/ngày đêm vẫn không đáp ứng nhu cầu.

    3 loại tính toán chính

    Cố Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng (thứ 2 từ trái) trong lần thăm tìm hiểu máy Minsk-32...
    Theo báo cáo “Tình hình ứng dụng máy tính điện tử từ năm 1974 đến 1976 và kế hoạch từ 1976 đến 1980 trong Quân Đội”, nội dung tính toán trên máy có thể phân thành ba loại: phục vụ chỉ huy; tính toán kỹ thuật quân sự và tính toán quản lý trong quân đội ta.

    Về phục vụ cho chỉ huy: Lĩnh vực này làm chưa được bao nhiêu, vì phương pháp xử lý rất phức tạp, hơn nữa sự phối hợp với cán bộ chỉ huy chưa chặt chẽ. Tuy nhiên, đã giải quyết một số vấn đề có tính kỹ thuật phục vụ cho chỉ huy như: tính toán một số khâu trong quá trình khai mã, lập tự điển mã, tính các bảng bắn cho các loại pháo, tính toán các bảng hệ số phục vụ cho tên lửa, tính thuỷ triều cho các cảng miền Bắc cũng như miền Nam, dự báo khí tượng cho các sân bay, tính phân bố hoả lực pháo, tính xác xuất tiêu diệt các mục tiêu lẻ của tên lửa (một số tính toán trên trước đây đã được tính trên máy Minsk-22 của UBKHKTNN).

    Về tính toán kỹ thuật quân sự: Nhiều vấn đề nghiên cứu về kỹ thuật quân sự của viện KTQS và các đơn vị khác trong quân đội đã đặt ra những bài toán phức tạp đòi hỏi phải tính trên máy tính điện tử. Đó là những tính toán về thiết kế các loại pháo, các loại súng, tính nội phao, tính đường bay của tên lửa, tính toán thiết kế nhà cửa, cầu đường, tính toán về phóng xạ nguyên tử, tính áp suất gây ra bởi con tàu…

    Về tính toán quản lý trong quân đội ta: có thể chia thành các tính toán quản lý nhân lực; quản lý trang bị vật tư và quản lý tài chính.

    a. Quản lý nhân lực:

    • Tổng hợp tình hình điều tra quân số năm 1973. Kết quả chính xác theo yêu cầu, kịp thời, được cục Quân Lực – bộ tổng Tham Mưu đánh giá cao. Theo ý kiến của cục Quân Lực, nếu không có máy tính, để có được số liệu tổng hợp tình hình điều tra, phải sử dụng số lượng nhân lực đến 20.000 người, phải in hơn 1.000.000 tờ biểu và phải làm đến hàng năm mới hy vọng có được kết quả mong muốn, lại có thể phạm nhiều sai sót do phải tổng hợp từ đại đội lên tiểu đoàn rồi trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn hay quân khu rồi mới đến Bộ
    • Tổng hợp tình hình điều tra quân số toàn quân sau ngày giải phóng. Dung lượng số liệu lần này gấp đôi lần trước, biểu mẫu yêu cầu lại phức tạp hơn, thời gian yêu cầu nhanh hơn (sau 3 tháng phải tổng hợp xong)
    • Nắm chất lượng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu của cục Cán Bộ, dựa vào đợt điều tra năm 1974
    • Nắm đội ngũ đảng viên toàn quân theo yêu cầu của ban Tổ Chức Trung Ương. Đến hết quý 1/1976 thì hoàn thành việc tổ chức lưu trữ và xử lý tổng hợp               
    • Chuẩn bị để sang năm 1976 thì sẽ tổ chức nắm tình hình quân số toàn quân bằng máy tính. Như vậy phải điều tra gốc, phải tổ chức lưu trữ dữ liệu gốc vào máy tính, tổ chức báo cáo tăng giảm quân số hàng tháng và xây dựng chương trình xử lý
    • Hỗ trợ tổng hợp điều tra dân số cho Nhà Nước (theo yêu cầu của Phủ Thủ Tướng và chỉ thị của bộ Quốc Phòng). Nhiệm vụ này do UBKHKTNN và tổng cục Thống Kê đảm nhiệm, nhưng sợ không kịp nên nhà nước yêu cầu quân đội hỗ trợ.

    b.Quản lý trang bị vật tư:

    • Nắm tình hình xe toàn quân trước khi mở đợt tổng tấn công năm 1975. Theo yêu cầu cục Quân Lực, công việc này phải hoàn thành trong vòng 1 tháng, tổng hợp từ các đầu mối toàn quân
    • Nắm tình hình kho của cục Quân Khí hàng quý
    • Nắm tình hình máy nổ toàn quân
    • Xử lý tổng hợp dự trù phụ tùng ô tô toàn quân năm 1975 theo yêu cầu của cục Quản Lý Xe
    • Nắm tình hình xe một cách chi tiết cho toàn quân.

    c. Quản lý tài chính:

    • Tính tiền ăn, tiền phụ cấp cho toàn quân năm 1975
    • Tổng hợp tình hình chi tiêu hàng tháng, hàng quý
    • Tính lương cho quân đội.

    Những nhận định ban đầu

    Một thời gắn bó với nhau quanh chiếc Minsk-32, các chuyên gia giờ này vẫn như đang làm việc tại một cơ quan:  Ảnh chụp tại hội thảo “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào các hoạt động kinh tế - xã hội ở Nam Định và vùng Nam đồng bằng Sông Hồng”.
    Trong một thời gian ngắn chưa đầy 2 năm mà đã tổ chức khai thác máy tính điện tử Minsk-32 với thời gian làm việc ngày đêm để giải quyết nhiều loại vấn đề, đặc biệt là vấn đề quản lý trong quân đội ta đã chứng tỏ khả năng sử dụng máy tính của quân đội ta. Quân đội ta hoàn toàn có khả năng sử dụng máy tính để giải quyết nhiều việc, đưa lại hiệu quả đáng kể. Hai lĩnh vực được sử dụng phổ biến nhất là quản lý và kỹ thuật quân sự. Hiện nay, việc dùng máy tính trong lĩnh vực chỉ huy, ngay ở các nước, cũng nặng về những vấn đề kỹ thuật trong chỉ huy. Việc tìm phương án và phát ra những mệnh lệnh thay cho người chỉ huy ở mức độ nào đó chỉ hạn chế trong những hệ thống kỹ thuật cụ thể. Và cũng rất dễ hiểu, việc đó đối với ta càng khó khăn.

    Về quản lý, ta chưa có thể thay được nhiều khâu trong cả một quy trình quản lý, nhất là khâu tìm phương án tối ưu (mà khâu này, ngay cả khi đã dùng máy tính, cũng phải dựa vào suy đoán của con người). Nhưng muốn tìm phương án tối ưu thì trước hết phải làm khâu tổ chức dữ liệu (tổ chức thông tin). Có được số liệu chính xác, kịp thời để cung cấp cho người chỉ huy có cơ sở quyết định phương án đúng đắn cũng đã có ý nghĩa rất lớn rồi. Nói tóm lại, trong vòng 5-7 năm trước mắt, việc sử dụng máy tính chủ yếu để làm thông tin quản lý (tổ chức lưu trữ, xử lý số  liệu có mức độ), cung cấp số liệu chính xác, kịp thời cho người lãnh đạo.

     Vì mới làm bước đầu, đang ở giai đoạn thí điểm, nên những kết quả thu được trong lĩnh vực quản lý đang có tính rời rạc, chưa xây dựng được cả một quy trình công nghệ thay hẳn cho cả một dây chuyền quản lý. (Muốn làm được việc này cũng phải mất đến 5-7 năm). Tuy những vấn đề tính toán trong kỹ thuật quân sự hình thành tương đối phong phú, nhưng cũng đang là những vấn đề nghiên cứu chưa lớn, phản ảnh tình hình nghiên cứu kỹ thuật nói chung hiện nay ở nước ta. Ngoài những tính toán trong quân đội ra, Trung Tâm còn phối hợp với bộ tư lệnh Công Binh tính toán thi công cho công trình Lăng Bác, phối hợp với Nha Khí Tượng tính toán dự báo khí tượng, dự báo bão, với bộ Thuỷ Lợi tính toán chống lũ lụt…

    Sau khi tiếp quản các máy tính IBM ở miền Nam, chúng ta cũng có một số nhận định về việc khai thác máy tính của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tất cả các máy này đều làm quản lý số liệu về hoặc nhân sự, hoặc trang bị vật tư, hoặc tài chính, nhưng tổ chức thu thập và lưu trữ số liệu một cách quy mô, khá hoàn chỉnh và đã xây dựng được quy trình quản lý một cách khoa học. Họ đã phải làm việc này hàng chục năm kể từ khi bắt đầu sử dụng những máy móc cơ khí như máy đục bìa, máy phân tổ tổ hợp. Riêng đối với quản lý vật tư, trang bị có thể có tính toán tối ưu (cách lấy vật tư tối ưu), còn tất cả các tính toán khác chưa làm việc gì khác ngoài tổ chức lưu trữ và tổng hợp theo các mẫu biểu. Những máy ta tiếp quản được đã tạo một điều kiện lớn đối với việc tổ chức quản lý nhân lực, trang bị, vật tư và đảm bảo những tính toán khác trong quân đội ta sau đó.

    Tư duy tính toán 30 năm trước

    Từ trái sang: Hoàng Minh Châu, Nguyễn Mạnh Linh, Đặng Đức Mai, Nguyễn Lãm, Nguyễn Trường Long từ trung tâm Toán - Máy Tính Quân Đội, đều trở thành các chuyên gia CNTT gạo cội sau này, tại một ngày truyền thống của Trung Tâm...
    Để chúng ta có thể thấy rõ hơn tư duy về ứng dụng máy tính trong quân đội của Trung Tâm lúc đó, tôi xin dẫn một phần báo cáo phương hướng từ năm 1976 đến 1980 về sử dụng máy tính cho quản lý (không đề cập đến các lĩnh vực khác). Theo đó, trong vòng 5 năm, phải phấn đấu xây dựng được những quy trình quản lý bằng máy tính trong quân đội ta về nhân lực, trang bị vật tư, tài chính. Cụ thể:

    Năm 1976:
     
    Về nhân lực:

    • Nắm quân số toàn quân hàng tháng. 9 tháng đầu năm làm thí điểm, xây dựng chương trình. Tháng 10/1976 bắt đầu đưa vào quy trình thực sự. Dự kiến dùng máy tính Minsk-32. Cục Quân Lực phối hợp với Trung Tâm thực hiện
    • Nắm đội ngũ đảng viên toàn quân . Từ 12/1975 đến tháng 4/1976 làm thí điểm, sau đó làm chính thức. Cục Tổ Chức tổng cục Chính Trị phối hợp cùng Trung Tâm thực hiện. Dự kiến dùng Minsk-32
    • Nắm đội ngũ cán bộ quân đội. 9 tháng đầu năm 1976 làm thí điểm,sau đưa vào nghiệp vụ. Cục Cán Bộ phối hợp cùng Trung Tâm thực hiện. Dự kiến sử dụng máy IBM360/40.

    Về trang bị vật tư:

    • Nắm tình hình xe toàn quân, thí điểm đến tháng 6/1976. Tháng 7/1976 đưa vào nghiệp vụ. Cục quản lý xe phối hợp cùng với Trung Tâm thực hiện. Dự kiến dùng máy IBM360/50 và IBM360/40
    • Nắm tình hình pháo toàn quân. Thí điểm đến tháng 9/1976. Tháng 10 /1976 đưa vào nghiệp vụ. Tổng cục Kỹ Thuật phối hợp với Trung Tâm thực hiện. Dự kiến dùng IBM360/50
    • Nắm tình hình máy móc toàn quân. Thí điểm đến tháng 9/1976. Tháng 10/1976 đưa vào nghiệp vụ. TCKT cùng với Trung Tâm thực hiện. Dự kiến dùng máy IBM360/50
    • Quý I,II /1976 làm tổng kiểm kê toàn quân về trang bị vật tư. Phối hợp nhiều máy để tính toán
    • Nắm tình hình kho hàng quý của cục Quân Khí.

    Về tài chính:

    • Tổng hợp chi thu và nợ, có của các tài khoản hàng ngày. Cục Tài Vụ chủ trì. Dùng máy IBM360/20
    • Tổng hợp chi thu hàng quý, tháng cho toàn quân. Cục Tài Chính chủ trì. Dùng máy IBM360/20 và Minsk-32
    • Tnh tiền lương, tiền ăn, phụ cấp toàn quân. Cục Tài Chính chủ trì.

    Năm 1977-1980:

    Hoàn chỉnh các quy trình trên đây, xây dựng thành những nề nếp quản lý bằng máy tính một cách vững chắc, đồng thời nghiên cứu những mô hình quản lý để phục vụ cho việc làm kế hoạch.

    Những lưu ý thuở đó

    GS Nguyễn Lãm (bận đồ sậm màu) và các đồng nghiệp ở trung tâm Toán - Máy Tính Quân Đội trước kia tại kỳ Đại Hội Hội Tin Học TP.HCM khoá 5 (1/12/2007). TS Nguyễn Trọng, nguyên chủ tịch Hội 2 khoá 2 và 3 mặc áo nâu hồng - ảnh TGVT - PCW VN.
    Những việc đặt ra trên đây rất phức tạp về phương diện tổ chức cũng như phương diện khoa học, kỹ thuật. Về mặt khoa học, sự phức tạp không phải là thuật toán mà ở chỗ tổ chức thông tin. Với những dung lượng thông tin lớn thì yêu cầu về tổ chức thông tin khác hẳn về chất so với những dung lượng thông tin bé. Tuy nhiên, những khó khăn về mặt khoa học hoàn toàn có khả năng vượt qua vì số cán bộ làm việc này đã có ít nhiều kinh nghiệm. Cái khó khăn cần quan tâm giải quyết là khó khăn về mặt tổ chức, quản lý. Làm thế nào để đảm bảo được quy trình báo cáo, nội dung báo cáo phải chính xác, kịp thời. Tuy khó khăn nhưng không phải chúng ta không thể vượt qua được.

    Tất cả việc làm trên đây đều nhằm đến một mục tiêu là nắm được số liệu chính xác, kịp thời để phục vụ cho nhà chỉ đạo làm kế hoạch, đưa ra được những mệnh lệnh. Làm được việc này (tổ chức thông tin) đã là một ý nghĩa lớn. Muốn làm được kế hoạch thực sự cần phải có thời gian nghiên cứu và việc đó sẽ tập trung giải quyết trong những năm sau 1980.

    Những hệ xử lý trên không phải tất cả được xây dựng theo mô hình hệ cơ sở dữ liệu mà phần lớn chỉ là những chương trình tổng hợp, phân tích trên cơ sở những dữ liệu thu được từ dưới lên. Để xây dựng được những hệ cơ sở dữ liệu với đầy đủ ý nghĩa của nó cho một lĩnh vực nào đó cần phải có nhiều thời gian hơn. Hệ quản lý cán bộ mà anh Nguyễn Trọng (TS Nguyễn Trọng, một trong những chuyên gia CNTT gạo cội) rất say sưa, đặt toàn bộ tâm trí, mục tiêu cuộc đời mình (lúc đó) để xây dựng là một hệ cơ sở dữ liệu với ý nghĩa đầy đủ của nó.

    Đến nay thì việc thiết kế xây dựng những hệ cơ sở dữ liệu như vậy không còn là vấn đề quá phức tạp nữa vì đã có nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu phát triển theo nhiều mô hình (từ dạng cây, quan hệ, rồi hướng đối tượng) và cũng có rất nhiều phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu để lựa chọn.Vào thời điểm trước những năm 1980, tri thức này quả là còn cao xa, ít người hiểu được. Báo cáo tôi trích ra trên đây chỉ tập trung trình bày ứng dụng máy tính vào lĩnh vực quản lý, chưa đề cập đến những lĩnh vực khác như vào tham mưu chỉ huy và vào kỹ thuật quân sự...

    Tạm biệt Minsk-32. Đón chào ngày truyền thống trung tâm Toán – Máy Tính Quân Đội!

    Nguyễn Lãm

    ID: O0804_1