• Thứ Năm, 29/05/2008 10:09 (GMT+7)

    Số thư viện ứng dụng CNTT mới chiếm 19,8%

    Ngày 28/5/2008, tại Đồng Nai đã có hội thảo “Xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của thư viện cấp huyện trong thời kỳ CNH-HĐH".


    Đại biểu tham quan hệ thống thư viện tỉnh Đồng Nai, do Lạc Việt cung cấp.

    Hội thảo do Thư Viện tỉnh Đồng Nai lần đầu tiên đăng cai tổ chức. Về tham dự hội thảo có 64 đại diện của các thư viện tỉnh, thành trên cả nước.

    Hiện trạng chung

    Bà Vũ Thị Ngọc Phần - phó vụ trưởng vụ Thư Viện cho biết, hiện có 99 thư viện trong cả nước đã triển khai ứng dụng CNTT, chiếm tỷ lệ 19,8%. Nội dung ứng dụng CNTT gồm: xây dựng cơ sở dữ liệu sách, in phích, tra cứu tìm tin (đã có một số thư viện xây dựng phòng đọc đa phương tiện, kết nối internet… phục vụ bạn đọc).

    Nhìn chung, theo bà Phần, phương thức hoạt động của thư viện còn chậm được đổi mới. Hoạt động phục vụ cũng như hoạt động chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu vẫn là hình thức truyền thống, thụ động, trì trệ. Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện cấp huyện diễn ra chậm. Nội dung ứng dụng còn ít, chủ yếu là đang tạo lập cơ sở dữ liệu sách, đồng thời để in phích và soạn thảo văn bản… Số thư viện thực hiện ứng dụng CNTT triệt để, đầy đủ trong hoạt động chưa nhiều.

    Từ đó cho thấy, số thẻ bạn đọc bình quân của 1 thư viện không nhiều: 350 lượt/1 thư viện; 50 thẻ bạn đọc/1 thư viện/năm; số lượt bạn đọc bình quân 50 lượt/ngày/1 thư viện; lượt sách báo bình quân 140 lượt/ngày/1 thư viện. Có thể nói, hiệu quả họat động thư viện như vậy là chưa cao, chưa thu hút bạn đọc tới sử dụng thư viện, chưa đáp ứng được với yêu cầu xây dựng và phát triển của địa phương.

    Đã có ứng dụng nhưng chưa nhiều

    Ông Nguyễn Trọng Phượng - trưởng phòng Nghiên Cứu Khoa Học - Thư Viện Quốc Gia Việt Nam cho rằng, định hướng về hoạt động nghiệp vụ đối với thư viện cấp huyện trong thời kỳ đổi mới cần phải ứng dụng CNTT. Trong thời điểm hiện tại, do kinh phí khó khăn nên chỉ có một số thư viện cấp huyện có điều kiện trang bị máy tính. Nhưng những năm tới, dù kinh phí có hạn hẹp thì các thư viện cần dự trù kế họach và làm việc với lãnh đạo địa phương để thư viện được trang bị tối thiểu 2 máy tính. Trước mắt, cũng do kinh phí có hạn, chỉ nối mạng cục bộ trong thư viện. Khi có điều kiện sẽ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các thư viện và cơ quan khác thông qua mạng Internet. Ứng dụng CNTT trong họat động thư viện sẽ giúp cán bộ thư viện và bạn đọc tìm tin, xử lý, lưu trữ tài liệu…Và chỉ ứng dụng CNTT các thư viện mới có thể áp dụng được khỗ mẫu biên mục (MARC 21).

    Ông Phượng đưa ra giải pháp: để thu hút bạn đọc cần đổi mới phương thức phục vụ; tích cực thực hiện luân chuyển sách báo xuống cơ sở; thường xuyên tuyên truyền giới thiệu sách; tổ chức tốt phong trào thi đọc sách báo; xây dựng ý thức, thói quen đọc sách cho người dân trên địa bàn... Đặc biệt, cần tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất cho thư viện. Trong thời gian tới, thư viện cần phải được trang bị các phương tiện hiện đại như máy tính với phần mềm quản trị dữ liệu thống nhất (trước mắt là phần mềm miễn phí ISIS), máy in, máy photocopy… để nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý nghiệp vụ thư viện và phục vụ bạn đọc.

    Giải pháp đồng thời là nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho cán bộ thư viện kể cả tin học, ngoai ngữ đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành thư viện hiện nay; tích cực vận động thưc hiện chủ trương xã hội hóa, nhằm tăng cường nguồn lực cho họat động thư viện từ các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội; phát huy vai trò tự quản, tự phục vụ ở mỗi cộng đồng dân cư; tập trung xây dựng điển hình tiên tiến có tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và chỉnh sửa, sau đó nhân rộng điển hình trên địa bàn.

    Ông Nguyễn Xuân Phong, phó giám đốc sở VH-TT-DL Hải Dương chia sẻ: vốn sách, báo, tài liệu của thư viện có vai trò quyết định đến chất lượng phục vụ bạn đọc. Chính vì vậy, Thư Viện Hải Dương luôn chú trọng nâng cao chất lượng vốn sách, báo và tài liệu, tập trung nguồn lực để bổ sung nhiều loại sách, báo, tài liệu quý hiếm, có cơ cấu hợp lý trên các lĩnh vực: sách chính trị xã hội 25%; sách khoa học kỹ thuật và công nghệ 25%; sách văn học nghệ thuật 25%; sách thiếu nhi 15% và 10% sách quý hiếm. Ngoài ra, Thư Viện Hải Dương có khoảng 150.000 cuốn, 5.000 đơn vị báo, tạp chí và hàng trăm tài liệu điện tử đáp ứng nhu cầu tra cứu thông tin của bạn đọc.

    Trong những năm gần đây, Thư Viện tỉnh Hải Dương cũng đã quan tâm nâng cấp hệ thống tìm tin bằng hệ thống tra cứu điện tử. Ứng dụng phần mềm Ilib vào các họat động nghiệp vụ, quản lý và phục vụ bạn đọc, nối mạng Internet để đọc báo điện tử, trang bị các phương tiện nghe nhìn để phục vụ bạn đọc. Hiện tại, hệ thống mục lục điện tử của thư viện tỉnh Hải Dương tương đối hoàn chỉnh, giúp bạn đọc đến tra cứu tìm tin một cách nhanh chóng và thuận lợi. Tuy nhiên, do công tác ứng dụng CNTT chưa được quan tâm đẩy mạnh nên kết quả vẫn chưa đáp ứng được mong muốn. Tới đây, Thư Viện Hải Dương sẽ chú trọng hơn đến ứng dụng CNTT vào họat động và sẽ cử cán bộ đi để đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cũng như đi học tập một số mô hình của các thư viện khác đã làm tốt để về triển khai trong đơn vị.

    Phần mềm Vebrary của Lạc Việt

    Ông Hà Thân giới thiệu phần mềm thư viện của Lạc Việt.

    Tại hội thảo, công ty cổ phần tin học Lạc Việt đã giới thiệu phần mềm “Xây dựng và quản lý thư viện số” (Vebrary). Ông Hà Thân, tổng giám đốc Lạc Việt cho biết, Vebrary là phần mềm duy nhất ở Đông Nam Á có tên trong danh sách của tổ chức quốc tế về phát triển và bảo trì chuẩn ứng dụng mượn liên thư viện ILL ASTHMA (ILL Applications Standards Maintenance Agency- www.nlc-bnc.ca/iso/ill), được thư viện quốc gia Canada kiểm chứng nghiệp vụ.

    Phần mềm đáp ứng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế và quốc gia về CNTT và thư viện; hỗ trợ khung biên mục MARC21, USMARC; chuẩn trao đổi truy vấn thông tin Z39.50; chuẩn mượn liên thư viện ISO 10160/10101; khổ mẫu trao đổi ISO2709. Vebrary hiện đã có khoảng 20 khách hàng là thư viện một số tỉnh, thành và thư viện của một số trường học ứng dụng thành công.

    Hải Thanh

    ID: O0805_1