• Thứ Hai, 15/12/2008 12:00 (GMT+7)

    CNTT phục vụ khám chữa bệnh…

    Ngày 12/12/2008, tại TP.HCM, hội Tin Học TP.HCM cùng các đối tác tổ chức hội thảo “Ứng dụng CNTT phục vụ cho ngành y tế” đề cập hiện trạng, kinh nghiệm, giải pháp...

    Hội thảo "Ứng dụng CNTT phục vụ cho ngành y tế" tại TP.HCM ngày 12/12/2008.
    Hiện trạng...

    Bác sĩ Nguyễn Chí Phong, phó chánh văn phòng, sở Y Tế Bình Dương trong báo cáo “Giải pháp ứng dụng CNTT cho ngành y tế tỉnh Bình Dương” khẳng định Bình Dương chưa có ứng dụng CNTT nào cho ngành y tế “mặc dù Bình Dương cũng nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là tỉnh thu hút đầu tư tốt và tương đối phát triển về kinh tế - xã hội trong những năm qua”, ông Phong nói rõ. Ông Phong cho biết chỉ duy nhất ở sở Y Tế Bình Dương là đã có mạng LAN chia sẻ dữ liệu và email từ năm 2001 (từ đề án 112). Bệnh viện (BV) Đa Khoa tỉnh mới đang triển khai giai đoạn đấu thầu trang bị phần cứng, phần mềm…

    Ông Phong đã giới thiệu 2 dự án cơ sở dữ liệu dân cư và CNTT cho ngành y tế. Dự án cơ sở dữ liệu dân cư phục vụ công tác quản lý hành chính nhưng có một phần dữ liệu về người dân có thể sử dụng trong dự án CNTT cho ngành y tế (những thông tin cơ bản về người dân - người được chăm sóc sức khoẻ). Theo dự án CNTT cho ngành y tế, khách hàng (các doanh nghiệp dược, mỹ phẩm…) có thể đăng ký trực tuyến với sở Y Tế. Các cơ sở dữ liệu này sẽ chạy trên web và từ đó sẽ có phần thông tin dùng làm bệnh án điện tử. Trang web sẽ cấp cho nhân viên y tế xã để họ nhập thông tin y tế tuyến xã gửi lên huyện cho nhân viên y tế tuyến huyện cập nhật gửi lên sở Y Tế điều chỉnh (thông tin phát sinh, cập nhật, điều chỉnh thường xuyên).

    Theo bác sĩ Bùi Minh Trạng, phó trưởng phòng Kế Hoạch Tổng Hợp, sở Y Tế TP.HCM, đến năm 2005, cả nước đã có trên 1.000 BV công lập nhưng chỉ khoảng 5% đã ít nhiều ứng dụng CNTT vào quản lý tài chính, quản lý dược, quản lý bệnh án (thông tin bệnh án chủ yếu là về mặt hành chính). TP.HCM tuy đã ứng dụng CNTT trong ngành y tế từ tương đối sớm nhưng không đồng đều. Hiện, TP.HCM có 27 BV trực thuộc sở Y Tế, 15 BV trực thuộc Trung Ương, 24 BV quận huyện, 26 BV tư nhân, 78 phòng khám đa khoa tư nhân, trên 3.000 nhà thuốc tư nhân, 404 công ty TNHH về dược phẩm nhưng mới chỉ có một số rất ít nhà thuốc có ứng dụng CNTT quản lý bán hàng; các BV có những ứng dụng về phần mềm quản lý, kết nối ADSL, có nơi sử dụng phần mềm quản lý bệnh án như Medisoft hoặc bắt đầu xây dựng BV theo mô hình BV điện tử (eHospital).

    Những khó khăn chính trong ứng dụng CNTT vào ngành y tế ở TP.HCM theo ông Trạng là do phần cứng CNTT đắt; phần mềm không được đầu tư đúng mức; quan điểm – cách thức đầu tư ứng dụng của các cấp lãnh đạo chưa thông suốt; nhận thức cách biệt giữa chuyên gia phần mềm và giới chuyên môn y tế (chuyên gia phần mềm không biết cung cấp tiện ích nào cho bác sĩ; bác sĩ không biết chuyên gia phần mềm có khả năng gì đề nêu yêu cầu); các cơ sở y tế thiếu nhân sự am hiểu CNTT để vận hành… Tuy nhiên, bác sĩ Trạng cũng cho biết, sắp tới, các BV sẽ tự chủ hơn và tự do, mạnh dạn hơn trong việc chi tiền đầu tư CNTT.

    TP.HCM đang triển khai dự án trị giá 7,5 tỷ đồng “Mạng y tế phục vụ chẩn đoán và điều trị từ xa” đặt

     Để triển khai thành công hệ thống quản lý tổng thể BV, cần giải quyết tốt 5 vấn đề: con người; kinh phí; quy trình; phần cứng; phần mềm.

    Người lãnh đạo cơ sở y tế phải hiểu và quyết tâm ứng dụng CNTT. Cơ sở phải có kinh phí dành riêng cho chương trình. Quy trình của cơ sở y tế phải được nâng cấp phù hợp ứng dụng tin học hoá. Phần cứng của hệ thống phải đủ mạnh. Phải chú trọng phần cứng vì một khi bệnh nhân được chụp cắt lớp, hình ảnh để nhận dạng bệnh tật rất nhiều, kích thước lớn. Do vậy băng thông, tốc độ truy xuất dữ liệu phải rất tốt mới đảm bảo chẩn trị nhanh chóng. Cuối cùng mới là phần mềm. Phần mềm tin học hoá quản lý BV cũng không phải quá đặc biệt, nếu hệ thống phần cứng đã tốt thì việc cài đặt, sử dụng phần mềm không gây bất cứ trở ngại nào đáng kể.

    Bác sĩ Vũ Mạnh Tiến

    máy chủ tại sở Y Tế TP.HCM. Ngoài ra, sở Y Tế TP.HCM cũng đang có các dự án “Triển khai ứng dụng CNTT tại sở Y Tế”; “Ứng dụng GIS trong hệ thống cấp cứu” và các chương trình như “Quản lý trang thiết bị ngành y tế”, “Quản lý thống kê ngành”. Theo ông Trạng, ứng dụng GIS trong hệ thống cấp cứu là dự án cấp bách. TP.HCM hiện có 170 xe cấp cứu, điều phối làm sao cho hiệu quả nhất đội xe này là vấn đề đáng quan tâm, nhất là ở một thành phố quá lớn như TP.HCM, không thể không tính trước tới trường hợp thảm hoạ. Lúc đó, cần điều hành hiệu quả nhất, giải quyết bài toán điều xe nào từ đâu tới và sẽ cứu đưa người bị nạn đến BV nào…

    Tầm nhìn – giải pháp

    Tại hội thảo, ông Nguyễn Hà Tuấn, phụ trách nhóm khách hàng chính phủ, mảng công chúng của công ty Microsoft Việt Nam giới thiệu tầm nhìn của Microsoft trên phạm vi toàn cầu về ứng dụng CNTT cho ngành y tế. Người dân sẽ đến với BV không chỉ khi đã là bệnh nhân mà còn có thể đến các cơ sở y tế và các BV với tư cách khách hàng để sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ với “mỗi người một ID (số nhận diện)”. Ông Nguyễn Việt Hưng, giám đốc kênh phân phối máy chủ của công ty Intel Việt Nam trình bày các giải pháp phần cứng cho CNTT trong y tế. Ông Hưng nhấn mạnh sự dứt khoát cần thiết máy chủ chuyên dụng trong các cơ sở y tế vì ở những nơi đó đòi hỏi hệ thống phải vận hành liên tục cũng như khả năng đáp ứng tốt của các máy chủ đời mới.

    Bác sĩ Vũ Mạnh Tiến, giám đốc công ty Tin Học Y Tế Links Toàn Cầu, trưởng bộ môn Tin Học Quản Lý BV ĐH Hùng Vương, TP.HCM trình bày kinh nghiệm triển khai hệ thống quản lý tổng thể bệnh viên trong 20 năm từ 1988 đến 2008. Ông Tiến cho biết: “Mục tiêu của tin học hóa  BV là tiến tới mỗi người một ID để khám chữa bệnh, suốt đời chỉ dùng một ID duy nhất này thôi. Tuy nhiên, có một thực tế rất khó khăn là mỗi BV lại sử dụng một hệ thống ID”. Ông Tiến cho biết, trong quá trình triển khai các hệ thống quản lý tổng thể BV, công ty Links Toàn Cầu đã sử dụng những card RF (một loại thẻ thông minh dựa trên tần số vô tuyến điện có giá thành 1 USD). Sau này, với lợi thế giá thành, loại thẻ giấy (in mã vạch, 300 đồng/1 thẻ) đang chiếm ưu thế.

    Đồng thời, công ty đã đưa ra phần mềm Medisoft. Hệ phần mềm này quản lý tới 26.000 tên thuốc (Tuy nhiên chừng đó vẫn là chưa đủ để một BV hiện đại thực hành chữa trị cho các bệnh nhân - PV). Ông Tiến cho biết khi dùng phần mềm Medisoft, việc quản lý chữ ký điện tử trong bệnh án điện tử rất quan trọng với bác sĩ và BV. Ngoài ra, phần mềm còn quản lý chế độ dinh dưỡng theo nhu cầu bệnh nhân, quản lý việc thu viện phí (tương tác qua màn hình cảm ứng). Ngoài ra, mục tiêu hướng đến của Medisoft là Cyber Medisoft – phần mềm của tương lai – chạy trên môi trường Internet, hỗ trợ chẩn đoán, điều trị từ xa.

    Mô hình BV điện tử tại Việt Nam của SaigonTech

    TS Nguyễn Vãn Sáu giới thiệu mô hình BV điện tử do ông thiết kế.

    TS Nguyễn Văn Sáu, hiệu trưởng trường SaigonTech kể về kinh nghiệm của BV điện tử Bumrungrad, Thái Lan với chỉ 550 giường bệnh mà đã đạt mức điều trị trên 1 triệu lượt người/năm. Ông Sáu cho biết mô hình BV điện tử đầu tiên tại Việt Nam dự kiến khởi công quý đầu năm 2009 tại Vũng Tàu. Đây là thiết kế của ông Sáu. BV điện tử là một BV có hệ thống trang thiết bị máy móc, phần cứng, phần mềm với các cấu thành: Quản trị (Administration); Chẩn trị (Clinics); Trung tâm hình ảnh (Imaging Center); Trung tâm dữ liệu (Databaser Center).

    Ở cấu thành quản trị, có hệ thống thông tin BV - HIS (Hospital Information System) và hệ thống ghi chép điện tử - EMR (Electronic Medical Records). Ở khâu chẩn trị, có hệ thống kết nối hồ sơ bằng hình ảnh - PACS (Picture Archive Communication System) và tạo ảnh số và kết nối thông tin y tế - DICOM (Digital Imaging & Communication iMed). Trung tâm hình ảnh bao gồm các máy cộng hưởng từ, cộng hưởng từ từ xa và y tế từ xa (Radilology – Teleradiology – Telemedicine). Hệ thống trung tâm dữ liệu dựa trên hệ thống y tế 7 lớp quản lý hồ sơ bệnh án - HL7 (Health Level 7).

    Như Dũng

    ID: O0812_1