• Thứ Ba, 20/01/2009 15:32 (GMT+7)

    Năm 2008: VNPT đạt doanh thu gần 55.500 tỷ đồng

    Tập đoàn BCVT Việt Nam (VNPT) đã công bố các kết quả sản xuất kinh doanh năm 2008 cùng các định hướng chiến lược trong năm 2009 vào ngày 16/1/2009.

    VNPT nộp ngân sách hơn 6.800 tỷ đồng

    Doanh thu của VNPT năm 2008 đạt gần 55.500 tỷ đồng, tăng hơn 19% so với năm 2007, nộp ngân sách hơn 6.800 tỷ đồng. Trong năm qua, VNPT phát triển mới gần 22 triệu thuê bao điện thoại, tăng gần 135% so với kế hoạch, nâng tổng số thuê bao trên toàn mạng của VNPT lên hơn 49 triệu thuê bao.

    Năm 2008 được coi là năm phát triển đột phá của VNPT trong lĩnh vực hiện đại hóa cơ sở hạ tầng mạng thông tin di động, mở rộng vùng phủ sóng. Ngoài việc tăng cường đầu tư hệ thống mạng lõi, VNPT còn chú trọng đầu tư hệ thống BTS, đảm bảo phổ cập dịch vụ không chỉ ở thành phố mà còn ở cả khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, cùng xa, biên giới, hải đảo, các khu vực quan trọng, phục vụ an ninh quốc phòng…

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ Tướng Chính Phủ về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế, VNPT nỗ lực tối đa để thực hiện các giải pháp tổng thể nhằm đảm bảo duy trì sự tăng trưởng, trong đó có việc thực hiện nghiêm túc giảm cước viễn thông theo lộ trình. Tháng 9/2008, VNPT thực hiện giảm cước quốc tế chiều đi với mức giảm chưa từng có, lên đến hơn 50%, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có mức cước điện thoại quốc tế chiều đi thấp nhất trong khu vực. Tiếp sau đó, TVNPT có chủ trương áp dụng mức cước khuyến khích cho thuê bao di động  của hai mạng VinaPhone và MobiFone với mức cước ưu đãi từ 20 đến 80% tùy từng gói cước. Và điểm nhấn quan trọng nhất là VNPT thực hiện chính sách “1 giá” cho các cuộc gọi nội mạng VNPT bao gồm cả cố định liên tỉnh và di động với mức giá đồng loạt là 1.000 đồng/phút v.v...

    Riêng năm 2008, số thuê bao phát triển thực của 2 mạng VinaPhone và MobiFone thuộc VNPT là 21 triệu thuê bao. Kết thúc năm 2008, VNPT chiếm khoảng 60% thị phần dịch vụ thông tin di động của cả nước. Số lượng thuê bao Internet tốc độ cao MegaVNN phát triển mới là gần 600.000 thuê bao, nâng tổng số thuê bao hiện tại lên con số trên 1,3 triệu. Với số lượng thuê bao này, VNPT chiếm 64% thị phần dịch vụ Internet tốc độ cao. Nhìn chung năm 2008, chất lượng mạng lưới, chất lượng các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet của VNPT tiếp tục duy trì an toàn, ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc ngày càng tăng của xã hội và đảm bảo thông tin thông suốt phục vụ các hoạt động chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng. Vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam VINASAT-1 sau khi được phóng lên quỹ đạo đã hoạt động ổn định và bước đầu đem lại doanh thu.

    Năm 2009 VNPT sẽ đạt doanh thu 60.000 tỷ đồng

    Năm 2009 là năm bản lề cuối cùng để VNPT cơ bản hoàn thành kế hoạch phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010. Tuy nhiên, năm 2009 được dự báo nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị tác động bởi khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông sự cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn khi nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài. Cạnh tranh trong nước cũng sẽ sôi động hơn trong các lĩnh vực dịch vụ trọng yếu. Trong khi đó, VNPT vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách giảm cước các dịch vụ theo lộ trình cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói, năm 2009 sẽ là năm tiếp tục có nhiều khó khăn đối với các doanh nghiệp nói chung và tập đoàn Bưu chính Viễn thông nói riêng.

    Để khẳng định vai trò là tập đoàn BCVT chủ lực của quốc gia, năm 2009, VNPT xác định mục tiêu tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao với tổng doanh thu dự kiến ở mức khoảng 60.000 tỷ đồng. VNPT cũng xác định ưu tiên phát triển  trong năm 2009 vẫn là những lĩnh vực thế mạnh đó là: Tiếp tục mở rộng, hiện đại hóa hạ tầng mạng viễn thông quốc gia và phát triển các dịch vụ trên nền mạng hiện đại; Phát triển các lĩnh vực dịch vụ truyền thống như điện thoại cố định, thông tin di động, dịch vụ băng rộng…cũng như thúc đẩy các dịch vụ giá trị gia tăng.

    Năm 2009, sau khi chia tách các lĩnh vực BC – VT, tổ chức của các đơn vị đã đi vào ổn định, các cơ chế kèm theo nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh đã được xây dựng, ban hành và tiếp tục được hoàn thiện, sẽ góp phần tạo động lực cho các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị thuộc lĩnh vực bưu chính, hoạt động hiệu quả. Năm 2008, công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng sẽ được đẩy mạnh, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tiếp tục được đổi mới, cập nhật để nâng cao tính ứng dụng thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    N.B

    ID: O0901_1