• Thứ Bảy, 28/02/2009 11:29 (GMT+7)

    Hướng đến mùa tuyển sinh 2009

    Ngành học nào cũng cần thu hút thí sinh, nhất là những trường mới tuyển sinh. Ngành CNTT do nhu cầu nhân lực lớn lại là ngành mũi nhọn nên nhu cầu tuyển sinh càng cấp bách.

    Một kỳ tuyển sinh tại ĐH FPT, hình để minh hoạ.
    Đa số thí sinh chọn giải pháp an toàn
     
    Trừ một tỷ lệ nhỏ thí sinh (TS) có bản lĩnh, tự tin chọn ngành, trường thích hợp, đa số TS thường tìm nơi có khả năng trúng tuyển cao nhất để đăng ký dự thi, sau đó mới cân nhắc chọn ngành nghề mình yêu thích, rồi đến các yếu tố khác như thương hiệu của trường, khoa; phương pháp đào tạo của trường định chọn… Vì thế, sự thu hút đề cập ở đây chỉ nhằm đến những TS có bản lĩnh, có sự lựa chọn nghề nghiệp của mình, chứ không dành cho những ai chỉ hướng đến mục tiêu đậu đại học.
     
    Qua việc tuyển sinh của nhiều năm, một tỷ lệ gọi là “tỷ lệ chọi” được các trường công bố sau khi đăng ký dự thi. Tỷ lệ này có thể xem là con số phản ảnh đậm nét sự thu hút của trường, mặc dù không phải là tất cả. Tỷ lệ này phụ thuộc vào chỉ tiêu tuyển sinh do bộ GDĐT quy định. Những TS chỉ quan tâm làm sao để vào được đại học mà không quan tâm đến ngành nghề mình yêu thích, sẽ không chọn những trường có “tỷ lệ chọi” cao. Từ tỷ lệ này, nhà trường sẽ tính toán để đưa ra điểm chuẩn cho từng ngành. Điểm chuẩn cao thường là có “tỷ lệ chọi” cao.

    Đối với ngành CNTT thì có nhiều tên gọi của chuyên ngành như: Hệ thống thông tin kinh tế, hệ thống thông tin quản lý, tin học ứng dụng, tin học kinh tế, toán - tin ứng dụng, toán - tin, phương pháp toán trong tin học, khoa học máy tính, kỹ thuật phần mềm, kỹ thuật máy tính, mạng máy tính & truyền thông, sư phạm tin học, TMĐT… Về ngành CNTT thì có nơi gọi là Tin Học, có nơi gọi là Nhóm Ngành CNTT.

    Điểm chuẩn: CNTT không phải là ngành cao nhất

    1. Điểm chuẩn ngành CNTT không phải là điểm chuẩn cao nhất trong các ngành mà nằm trong nhóm trên trung bình
    2. Điểm chuẩn ngành CNTT phụ thuộc vào trường có mức chất lượng đào tạo ngành CNTT cao hay thấp. Phần lớn trường công lập có điểm chuẩn CNTT cao hơn các trường dân lập. Riêng ĐH Thăng Long là trường dân lập nhưng lại có điểm chuẩn CNTT cao hơn nhiều trường công lập, cao hơn điểm chuẩn các ngành khác và điểm chuẩn năm 2008 cao hơn điểm chuẩn năm 2007
    3. Một số trường khi có các ngành tài chính- ngân hàng, kế toán thì thường những ngành này có điểm chuẩn cao hơn ngành CNTT. Đa số các trường có ngành sinh học, công nghệ sinh học thì những ngành này cũng có điểm chuẩn cao hơn ngành CNTT và thường ngành sinh học là ngành có điểm chuẩn cao nhất
    4. Những trường mới thành lập và thường là những trường tư thục, dân lập thì điểm chuẩn cho ngành CNTT là 13, cũng như điểm chuẩn của các ngành khác
    5. Điểm chuẩn ngành CNTT năm 2007 của nhiều trường cao hơn điểm chuẩn CNTT năm 2008, trong khi đó có một số ngành thì điểm chuẩn năm 2008 cao hơn năm 2007.

    Qua đó, có thể thấy một hiện tượng đáng suy nghĩ là sự thu hút của ngành CNTT nhìn chung có xu hướng giảm.

    Điểm trúng tuyển cao:  ĐH chuyên CNTT không chiếm đa số

    Từ danh sách trúng tuyển với điểm thi của từng TS ở một số trường được báo chí công bố có thể có vài nhận xét về TS trúng tuyển vào ngành CNTT và có thể so sánh với một vài ngành khác.
          
    1. Khoảng điểm trúng tuyển cao nhất và số TS ở trong khoảng điểm đó khác nhau ở các trường. Những trường có uy tín đào tạo lâu năm (phần lớn là trường công) có khoảng điểm trúng tuyển cao như ĐH Thương mại, KHTN TP.HCM, Bách Khoa TP.HCM…. Các trường có uy tín đào tạo ngành CNTT đã nhiều năm cũng có số TS ngành CNTT nằm trong khoảng điểm này, thậm chí còn có số lượng nhiều như ĐH KHTN TPHCM, Bách Khoa TP.HCM, Học Viện BCVT (phía Nam). Tuy nhiên, có khá nhiều trường có đào tạo ngành CNTT nhưng không có TS nào của ngành đạt được điểm trong khoảng này như: ĐH Quốc Tế - ĐHQG TP.HCM, GTVT TP.HCM, Thương Mại, Thủy Lợi (phía Nam), khoa Kinh Tế - ĐHQG TP.HCM, Sư Phạm Đồng Tháp, An Giang, Mở TP.HCM… Riêng ĐH Thương Mại thì cả 18 TS đạt điểm trong khoảng 29,0 đến 33,0 đều là TS ngành tiếng Anh
    2. Những trường chuyên ngành CNTT chưa phải là trường có điểm trúng tuyển cao. Trong khi đó những trường đào tạo những ngành kinh tế như: Thương Mại, Tài Chính – Ngân Hàng lại có điểm trúng tuyển khá cao.
    Qua đây cũng có thể nhận xét là ngành CNTT nói chung chưa phải là ngành thu hút TS có điểm trúng tuyển cao, trừ một ít trường đã có uy tín đào tạo ngành này trong nhiều năm.

    Từ những nhận xét trên đây, một vấn đề đặt ra để chuẩn bị cho tuyển sinh năm sau là làm thế nào để nâng cao sức thu hút TS có bản lĩnh trong học tập và có quan tâm đến ngành nghề vào ngành CNTT?

    Phải công bố thực trạng đào tạo

    Nếu các trường bằng mọi giá để có được nhiều TS đăng ký dự thi sẽ dẫn đến những tai họa khôn lường cho xã hội! Có trường còn thu hút TS bằng cách công bố không chính xác danh sách giảng viên, tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, cơ sở vật chất… có con số và chất lượng cách quá xa thực tế. Những điều này tác động chủ yếu đến những TS có bản lĩnh, có ý thức chọn lựa ngành nghề, còn đa số TS chỉ quan tâm đế khả năng đậu, mới thấy được tai hại cho tương lai của lớp trẻ!

    Cũng khó để phân loại TS đăng ký dự thi ai là người thực sự muốn biết những thông tin liên quan đến nghề nghiệp, ai không cần biết. Nhưng, đã là giáo dục đào tạo thì không cho phép nói dối, phải công bố thực trạng đào tạo của trường một cách trung thực, hướng dẫn TS lựa chọn trong điều kiện thực tế của trường.

    Bảng: Điểm chuẩn ngành CNTT năm 2008 và năm 2007 của một số trường ĐH (ngoài ngành CNTT có thêm điểm chuẩn một số ngành khác để so sánh)

    Số thứ t

            Tên trường ĐH

           Tên chuyên ngành

         Điểm Chuẩn

    2008              2007

    1

    ĐH QG Hà nội-ĐHKHTN

    -Toán-Tin ứng dụng

    -Sinh học

    -công nghệ sinh học

    -khoa học môi trường

    19,0               20,0

    24,0               23,0

    25,0               26,0

    26,0               20,0

    2

    ĐHQG Hà nội-ĐH Công nghệ

    -CNTT

    -công nghệ điện tử-viễn thông

    23,5               22,0

    23,5               24,0

    3

    ĐH Bách khoa Hà nội

    -CNTT

    -điện tử-viễn thông

    21,0               23,0

    21,0               23,0

    4

    HV Công nghệ BCVT(phía Bắc)

    -cntt

    -kỹ thuật điện tử-viễn thông

    22,5               26,0

    23,0               26,0

     

    5

     

    ĐHQGTPHCM-ĐHKHTN

    -Toán-Tin

    -Tin học ứng dụng

    -Phương pháp toán trong Tin học

    -CNTT

    16,0               16,0

    16,0               16,0

    16,0               16,0

    20,0               20,0

    6

    ĐHQGTPHCM-ĐH Bách khoa

    -CNTT

    21,0               23,5

    7

    ĐHQGTPHCM-ĐHCNTT

    -Khoa học máy tính

    -kỹ thuật máy tính

    -kỹ thuật phần mềm

    -hệ thống thông tin

    -mạng máy tính&truyền thông

    19,0              20,0

    18,0              20,0

    21,0              20,0

    19,0              20,0

    20,0              20,0

    8

    ĐH Ngoại thương

    -Thương mại điện tử

    -hệ thống thông tin quản trị

    25,0

    25,0

    9

    ĐH Điện lực

    - CNTT

    21,0              19,5

    10

    ĐH Sư phạm Hà nội

    - SP Tin

    -SP Toán

    -SP Sinh

    -cntt

    -sinh học

    16,5              21,5

    22,0              22,0

    24,5              24,0

    17,0              16,0

    23,5

    Nguyễn Lãm

    ID: O0902_1