• Thứ Tư, 27/05/2009 10:48 (GMT+7)

    Dịch vụ 3G tại Việt Nam: Những ẩn số còn lại

    Dù giấy phép 3G chưa được chính thức trao nhưng khi 4 nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ được cấp phép không còn là ẩn số thì giờ đây các câu hỏi lại xoay quanh những vấn đề được cho là nóng hơn, thời sự hơn như dịch vụ 3G đầu tiên sẽ là gì, bao giờ được cung cấp, vùng phủ sóng, giá cước ra sao và tốc độ đường truyền...?

    Cuối cùng thì 4 giấy phép cung cấp dịch vụ điện thoại di động (ĐTDĐ) thế hệ thứ 3 (3G) trên băng tần 1900 – 2200MHz cũng đã được thông báo có chủ sau 1 thời gian dài “đệ đơn” và “thi đấu” giữa: “liên danh” EVN Telecom – Vietnamobile (Hanoi Telecom), Gtel, MobiFone, S-Fone, Viettel, Vinaphone. Người ta đang hy vọng, trong tương lai gần, các dịch vụ giá trị gia tăng dành cho người dùng ĐTDĐ tại Việt Nam sẽ được cung cấp bởi những người thắng cuộc, họ bao gồm: EVN Telecom – Vietnamobile, MobiFone, Viettel, Vinaphone. Cũng phải nhấn mạnh thêm là, giấy phép 3G nói trên chỉ dùng cho các nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ muốn sử dụng băng tần 1900 – 2200MHz, còn các đơn vị không được cấp phép lần này vẫn có thể cung cấp 3G ở băng tần khác hoặc “liên danh” với các đơn vị có phép 3G nếu muốn sử dụng băng tần 1900 – 2200MHz. Điều đó cũng có nghĩa là “cửa” 3G không đóng với S-Fone, hay Gtel... như lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng. Thực tế, S-Fone đã triển khai 1 số dịch vụ 3G dựa trên nền CDMA 2000 1x EV-DO từ nhiều năm qua.

    Từ giấy phép đến triển khai.

    Tại cuộc họp báo công bố 4 doanh nghiệp (DN)/liên danh trúng tuyển giấy phép 3G vừa được bộ Thông Tin - Truyền Thông tổ chức, thứ trưởng Lê Nam Thắng đã cho biết, thời điểm cung cấp dịch vụ tùy thuộc vào các nhà khai thác mạng thông tin di động - sớm nhất là 1 tháng và chậm nhất là 9 tháng sau khi được cấp phép. Vùng phủ sóng tại thời điểm cung cấp dịch vụ, DN phải cam kết thấp nhất là 46% dân số, cao nhất là 86% dân số; tốc độ truy cập là 144Kbps ở nông thôn và 384Kbps ở thành thị. Có DN triển khai dịch vụ ngay từ ban đầu không phải là 3G mà là 3,5G (còn gọi là công nghệ HSDPA).

    Tìm hiểu cụ thể tại các nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ, chúng tôi được biết, sau khi chính thức nhận được giấy phép 3G một tháng (giấy phép 3G sẽ được cấp sau 90 ngày từ khi DN nộp tiền đặt cọc), VinaPhone sẽ cung cấp những dịch vụ công nghệ 3G đầu tiên tới khách hàng. Thời điểm triển khai 3G của MobiFone là 3 tháng sau khi được cấp phép. Trong khi đó, Viettel là 9 tháng. Như vậy, nếu nguồn tin giấy phép 3G sẽ được trao vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7/2009 là chính xác thì rất có khả năng, tới năm 2010 Viettel mới triển khai các dịch vụ 3G đầu tiên. Chúng tôi cũng đã đặt câu hỏi, bao giờ triển khai dịch vụ 3G với Vietnamobile nhưng đại diện của nhà khai thác này vẫn chưa đưa ra câu trả lời cụ thể, và tất nhiên, theo quy định, họ (cũng như EVN telecom) không thể triển khai dịch vụ 3G đầu tiên muộn hơn 9 tháng sau khi nhận được giấy phép.

    Ngoài thời điểm cung cấp dịch vụ, Xung quanh vấn đề cụ thể hóa các dịch vụ 3G của từng nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ cũng có khá nhiều vấn đề kỹ thuật khác nhau, ví dụ: VinaPhone sẽ triển khai dịch vụ 3G theo chuẩn WCDMA 2100MHz, trong khi của MobiFone là HSDPA; về vùng phủ sóng thì Viettel cho biết sẽ phủ 100% dân cư sau 3 năm đầu tiên triển khai, trong khi con số này của MobiFone là 98%, Vinaphone là 50%, cả 3 nhà khai thác này đều cam kết sẽ đầu tư 3G cả ở vùng nông thôn, tuy nhiên các thông tin cho thấy thành thị vẫn là nơi họ ưu tiên đầu tư và triển khai đầu tiên.

    “Món” nào sẽ được dọn ra?

    Người ta đang ví von, 3G sẽ là 1 “đại tiệc”, ở đó có vô vàn các “món ăn”. Thực tế triển khai ở những nước khác, 3G là nền tảng cho phép vô vàn các ứng dụng có thể được triển khai và số lượng các ứng dụng ngày càng gia tăng theo thời gian cũng như theo nhu cầu của người dùng. Tại Việt Nam, người ta đã bắt đầu nói đến điện thoại truyền hình (video call), truyền tải đồng thời âm thanh, dữ liệu (rich voice), tải phim (video dowloading), xem phim trực tuyến (video streaming), thanh toán điện tử (mobile payment), truy cập Internet di động (mobile Internet), quảng cáo di động (mobile advertizing), truyền dữ liệu, sao lưu dự phòng v.v... Dù chưa biết những dịch vụ nào sẽ được các nhà khai thác triển khai trong thời gian tới nhưng những ứng dụng hữu ích, phù hợp với nhu cầu của người dùng địa phương và giá cước phù hợp chắc sẽ giúp các nhà khai thác thành công như nhiều bài học cả trong lẫn ngoài nước đã cho thấy.

    Theo ông Erik Ridzal, chủ tịch của Jatis Mobile – một công ty chuyên cung cấp các giải pháp 3G có trụ sở tại Indonesia thì dịch vụ Mobile TV của họ đã không thành công sau hơn 1 năm triển khai do giá cước quá cao nhưng khi giảm giá dịch vụ này còn 10 USD/thuê bao/tháng thì nó đang phát triển rất tốt; tại Indonesia họ đã thành công ở các dịch vụ giá dưới 20USD/tháng gần gũi với người dùng. Không chỉ ở Indonesia, tại Việt Nam cũng vậy, dịch vụ Mobile TV của S-Fone dù đã được triển khai khá lâu nhưng đã không được người dùng đón nhận bởi giá cước cao và không được phổ cập bởi số lượng máy ĐTDĐ có thể dùng dịch vụ này quá hiếm hoi. Trường hợp này chúng ta cũng thấy ở dịch vụ truyền hình số di động do VTC và Nokia triển khai. Ngược lại, dịch vụ Mobile Internet đang được các nhà khai thác sử dụng công nghệ CDMA (S-Fone, EVN Telecom) triển khai lại được người dùng đón nhận bởi đây đã và đang là nhu cầu thực sự của họ.

    Cuối cùng, có ý kiến cho rằng 3G là cuộc đua mới trên thị trường di động Việt Nam. Bởi giấy phép 3G đã đặt các DN được cấp phép vào một vạch xuất phát như nhau (cùng đầu tư hạ tầng, cung cấp dịch vụ và phát triển khách hàng). Theo ông Bùi Quốc Việt, người phát ngôn của tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, hiện nay về năng lực cạnh tranh của các mạng di động được cấp phép 3G là như nhau. Tuy nhiên, 3 mạng di động lớn là MobiFone, VinaPhone và Viettel có lợi thế hơn về mặt khách hàng, mạng lưới cơ sở hạ tầng kĩ thuật và nguồn nhân lực. Song, mọi chuyện sẽ còn phụ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ sớm hay muộn, nội dung thông tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận khách hàng.

    Tổng số cam kết đầu tư về mạng lưới trong ba năm đầu theo cách tính của các DN, với 4 hồ sơ trúng tuyển, là 33.852 tỷ đồng, tương đương với gần 2 tỷ USD. Số tiền 4 hồ sơ đặt cọc là 8.100 tỷ đồng (riêng Viettel là 4.500 tỷ đồng). Ngoài số tiền đầu tư mạng lưới ra, số lượng trạm BTS cho 3G khoảng hơn 30 ngàn trạm, tương đương với số lượng trạm BTS hiện có của mạng 2G.
    Việt Nam đang có lợi thế trong việc triển khai 3G hơn các nước đi trước là thiết bị di động tích hợp 3G đã phổ biến khá rộng rãi trên thị trường trong nước trước khi các nhà khai thác dịch vụ triển khai 3G.

    Nhật Bình

    ID: A0905_75