• Thứ Năm, 21/05/2009 10:50 (GMT+7)

    Phát triển nhân lực cho công nghệ Nano

    Ngày 20/5/2009, tại TP.HCM, AIT-VN đã tổ chức hội thảo “Phát triển năng lực công nghệ Nano đối với sự tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới”.

     

    Hội thảo quy tụ các nhà khoa học trẻ của Việt Nam.
    Hội thảo của viện Công Nghệ Châu Á tại Việt Nam (AIT-VN) giới thiệu tầm quan trọng của công nghệ Nano, tầm quan trọng của đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghệ này tại các quốc gia định hướng phát triển công nghiệp dựa trên tri thức. Hội thảo cũng là cơ hội chia sẻ, thảo luận và mở rộng các mối quan hệ với các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực công nghệ Nano.

    Công nghệ của thế kỷ 21

    Công nghệ Nano đang được đánh giá là một kết nối trọng tâm cho sự phát triển công nghệ. Những quốc gia bỏ qua cơ hội này đến năm 2015 có thể sẽ đánh mất cơ hội tạo ra các lợi nhuận từ thị trường đang được đánh giá lớn bằng tổng thị trường điện tử và CNTT-TT hiện tại này. AIT là học viện tiên phong trong đào tạo sau đại học chuyên ngành công nghệ Nano ở châu Á. Điều phối viên của chương trình là giáo sư Joydepp Dutta, một trong những giáo sư đầu ngành công nghệ Nano với trên 20 năm kinh nghiệm. Giáo sư Dutta đã có phần trình bày chính tại hội thảo.

    Theo giáo sư Dutta, trong 2 thập niên tới, nếu các nước đang phát triển vẫn cố gắng đạt mức tăng trưởng 9%-10% (như mức nước Nhật đã đạt được trong nửa sau của thế kỷ 20) chỉ bằng cách tập trung vào cung cấp các dịch vụ chi phí thấp và nông nghiệp thì chưa đủ. Quốc gia định hướng cung cấp dịch vụ chi phí thấp sẽ đối mặt 2 hệ quả: tiếp tục là nhà cung cấp dịch vụ chi phí thấp và không bao giờ đạt các tiêu chuẩn sống như các quốc gia phát triển; hoặc lợi thế về chi phí thấp sẽ biến mất và phải có chiến lược mới để duy trì sự phát triển.

    Giáo sư Joydepp Dutta: “Công nghệ Nano là thiết kế và xây dựng những thiết bị công nghệ kích thước hàng phần tỷ mét”,
    Giáo sư Dutta cho biết, quá trình thu nhỏ kích thước thiết bị hình thành các vi thiết bị (kích thước 1nm đến 1mm) có được nhờ hội tụ 2 công nghệ có từ trước đó là công nghệ vi mạch (Micro Systems Technology – MST (1μm đến 1 mm) và công nghệ Nano (Nanotechnology (NT) từ 0,1nm đến 1μm). MST phát sinh từ năm 1947 cùng sáng chế transistor và khái niệm vi cơ - “Micromachining” đã có từ năm 1982. Trong khi đó, công nghệ Nano khởi xướng bởi Richard Feynman năm 1959 và được tích cực nghiên cứu từ năm 1995.

    Các nguyên tử liên kết với nhau tạo thành phân tử và cấu trúc Nano. Công nghệ Nano cần thước đo Nano. Phải sản xuất vật liệu mới; sản xuất thiết bị từ vật liệu này; chức năng hoá thiết bị thành những hệ thống phục vụ kết nối và đời sống… Công nghệ Nano ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực như những hệ thống thông tin (các quy trình thông tin và hệ thống lưu trữ); truyền thông; các hệ thống thiết bị sản sinh ít nhiệt và tiêu thụ ít điện; những hệ thống an toàn, bảo mật như dò tìm tác nhân sinh học, hiểm hoạ hoá học; giám sát tiện nghi công cộng... Công nghệ Nano có ảnh hưởng trực tiếp tới các hệ thống y sinh học như giám sát sức khoẻ, chẩn bệnh, dẫn truyền thuốc, khám phá phân tử sinh học. Nó cũng ảnh hưởng quan trọng đến quản lý môi trường  như giám sát ô nhiễm, sản xuất xanh, làm sạch nước và chuyển đổi năng lượng…

    Chuẩn bị “nguồn nhân lực Nano”

    Những quốc gia mạnh về công nghệ Nano gồm có Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ. Ở những nơi này đã có các chương trình quốc gia về công nghệ Nano (TQ), bằng sáng chế về công nghệ Nano (HQ), sản phẩm thương mại hoặc chương trình phát triển (Ấn Độ)... Những nước như Thái Lan (có chương trình quốc gia), Philippines (có hỗ trợ từ chính phủ), Nam Phi (sản xuất ở mức hạn chế), Brazil và Chile (có các viện nghiên cứu)… phát triển ở mức trung. Mehico, Argentina là những quốc gia có triển vọng… Theo giáo sư Dutta, những thách thức lớn của công nghệ Nano là nghiên cứu và đào tạo để có nguồn nhân lực cho công nghệ này.

    "Các viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt nhưng những phòng thí nghiệm quốc gia lại có sứ mệnh định hướng nghiên cứu (với công nghệ Nano)", giáo sư Dutta nhận định. Từ 2010 đến 2015, riêng Mỹ cần tới 0,8 – 0,9 triệu lao động công nghệ Nano. Cũng thời gian này, các vùng khác như Nhật, châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương lần lượt cần 0,5 – 0,6 triệu, 0,3 – 0,4 triệu, 0,1 – 0,2 triệu; những phần còn lại của thế giới cần đến 1 triệu “lao động Nano”. Mức lương trung bình của “lao động Nano” là 84.605 đô la Mỹ/năm (ở Mỹ là 97.978 đô la Mỹ/năm). "Thạc sĩ Nano" lĩnh nhiều hơn "đại học Nano" 36,7%, còn tiến sĩ lĩnh nhiều hơn thạc sĩ 29,1%.

    15 năm sau ngày giải thưởng Nobel trao cho công trình về công nghệ Nano, thế giới đã có 600 công ty ứng dụng công nghệ Nano cho sản phẩm của mình. Triển vọng nghề nghiệp với công nghệ mới này là rất tốt. Viện Công Nghệ Châu Á - AIT có chương trình đào tạo thạc sĩ về công nghệ Nano với những môn học (về) thế giới vĩ mô và vi mô, vật lý, hoá học, công nghệ sinh học, vật liệu học, công nghệ vi mạch, thiết bị đo, môi trường, các khoá nghiên cứu.

    Thế giới đang có những thách thức về khí hậu, nguồn nước, ô nhiễm, nhu cầu năng lượng, nạn đói…, và công nghệ Nano sẽ góp phần chinh phục những thách thức này. Vấn đề là các quốc gia, từng nhà khoa học cần định hướng đúng để chớp cơ hội sánh cùng các nước phát triển trong nhận thức và làm chủ công nghệ Nano. Tại buổi hội thảo, giáo sư Dutta đã giới thiệu thực lực cùng các kết quả nghiên cứu triển khai công nghệ Nano tại AIT (trụ sở chính ở Thái Lan). Trong một chừng mực nào đó, có thể nói, hội thảo về công nghệ Nano của AIT-VN là để nâng cao nhận thức của giới khoa học trẻ Việt Nam và mời gọi họ dấn thân vào công nghệ này.

    Như Dũng

    ID: O0905_1