• Thứ Năm, 08/10/2009 07:59 (GMT+7)

    Các mạng di động sẽ “mở cửa”?

    Dịch vụ thoại đang bão hòa và sự xuất hiện của dịch vụ 3G sẽ đưa thị trường viễn thông Việt Nam sang một giai đoạn mới.

    Bà Alita Wong.
    Tại Hội nghị Tăng trưởng Viễn thông diễn ra tại Hà Nội ngày 23 - 24/9/2009, các chuyên gia đều chung nhận định về thị trường viễn thông Việt Nam: dịch vụ thoại đang bão hòa và sự xuất hiện của dịch vụ 3G sẽ đưa thị trường viễn thông Việt Nam sang một giai đoạn mới. Ở đó, để cạnh tranh, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cần có các mô hình kinh doanh sáng tạo, trong đó, có thể các nhà mạng sẽ mở cửa cho bên thứ ba cùng tham gia. Dưới đây là trao đổi giữa TGVT với bà Alita Wong, Giám đốc Ngành Truyền thông, phụ trách phát triển thị trường, khu vực châu Á - Thái Bình Dương & Nhật Bản của Oracle Communications.

    Bà có thể cho biết công nghệ 3G sẽ mang lại những thay đổi như thế nào trên thị trường viễn thông Việt Nam?

    Chúng ta đều biết rằng các công nghệ 3G và Wi-Max sẽ cho phép nhiều người dùng cuối có cơ hội sử dụng các dịch vụ web và di động hội tụ. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chắc chắn sẽ có những phản ứng rất nhanh nhạy để nắm bắt được xu thế của thị trường. Trong bối cảnh có thêm các nhà khai thác mới tham gia thị trường, với các giấy phép 2G và dịch vụ thoại đang bão hòa, nhiều người tiêu dùng đang hướng đến những gói cước hấp dẫn hơn, đặc biệt những ứng dụng mới trên thị trường. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ phải nỗ lực để  khác biệt hóa bản thân họ so với đối thủ cạnh tranh. Theo tôi, thương hiệu, cùng với các gói dịch vụ và mức độ linh hoạt trong tính cước sẽ tạo nên sự khác biệt.

    Bà đánh giá sao về khả năng cung cấp dịch vụ mới  của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam?

    Tại hội nghị này, chúng tôi đã đưa ra một khái niệm gọi là “Mở cửa Dịch vụ” (service exposure) – nghĩa là các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ mở mạng cho bên thứ 3 tham gia phát triển và giới thiệu các ứng dụng trên mạng của họ. Rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã làm điều này, nhờ đó sẽ có thêm nhiều các ứng dụng mới. Kinh nghiệm cho thấy, một cơ sở hạ tầng CNTT cũ phải mất tới 9 tháng để triển khai dịch vụ và bắt đầu tạo ra doanh thu sau khi dịch vụ được giới thiệu ra thị trường. Nếu nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có hệ thống tính cước với các những giao diện lập trình ứng dụng (API) thân thiện, mang tính mở dành cho các nhà phát triển và có thể tính cước, áp dụng chiết khấu và định giá cho những dịch vụ tiên tiến thì thời gian này có thể được rút xuống còn 2 tháng. Ở Việt Nam, chúng tôi thấy rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đang sở hữu mạng theo chiều dọc chỉ hỗ trợ một dịch vụ và liên kết chúng với hệ thống truyền tải riêng đến phần mạng truy nhập. Mô hình kiểu này vẫn có thể chấp nhận được khi chúng ta chỉ có một dịch vụ và chỉ cần một kết nối với một mạng nhất định để biết được ai đăng ký sử dụng dịch vụ nào, nhưng nó sẽ không còn thích hợp nữa khi chúng ta chuyển sang một môi trường dịch vụ hội tụ với nhiều điểm truy nhập và nhiều dịch vụ.

    Theo bà, những lợi thế nào để các doanh nghiệp Việt Nam triển khai 3G một cách hiệu quả nhất?

    Khi việc truy cập web di động trở nên phổ biến, chúng tôi đề xuất khuynh hướng mạng theo chiều ngang. Trong đó, nhà cung cấp có thể quan sát tất cả các nền tảng truy nhập vào mạng. Như vậy,  việc mở mạng sẽ có hiệu quả hơn nhiều so với khuynh hướng “ốc đảo” (từng dịch vụ chỉ giao tiếp với một phần của mạng). Một số nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn đều đang theo mô hinh này như Telecom Italia, Sincom (Thụy Sĩ) và 3 (Úc). Ngoài đầu tư vào mạng lưới và những dịch vụ sáng tạo, điều quan trọng là cũng cần phải có một sự đầu tư tương ứng vào các hệ thống CNTT (IT), chẳng hạn như là hệ thống Quản lý Quan hệ Khách hàng (CRM) và hệ thống tính cước cũng cần phải được triển khai để đồng bộ với mức độ đầu tư vào mạng và dịch vụ. Một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, khi triển khai công nghệ 3G với nhiều băng thông hơn sẽ có cơ hội để triển khai nhiều dịch vụ đa phương tiện hơn. Chẳng hạn như là các dịch vụ nội dung di động hoặc là dùng máy ĐTDĐ để upload các bức ảnh hoặc nội dung hay truy cập vào các trang mạng xã hội. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng sự hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam hiện nay với các nhà cung cấp nội dung có thể chuyển sang một nền tảng sáng tạo mở.

    Bằng Linh (thực hiện).

    ID: O0910_1